Giáo Lý Hôn Nhân – Phần II

0
623
GIÁO LÝ HÔN NHÂN, PHẦN II
 

Phần Hai

GIA ĐÌNH LÀ HỘI THÁNH TẠI GIA

Bài 13

Gia đình là Hội Thánh tại gia

Anh em là dòng giống được tuyển chọn, 
là hàng tư tế vương giả, là dân tộc thánh thiện, dân riêng của Chúa,
để rao giảng quyền năng của Đấng đã gọi anh em ra khỏi tối tăm
 
mà vào ánh sáng kỳ diệu của Người.
 
(1Pr 2, 9).

Ngay từ đầu, Hội Thánh thường được hình thành từ những người “cùng với cả gia đình” trở thành tín hữu[1]. Khi theo Đạo, họ ao ước cho “cả nhà” được ơn cứu độ[2]. Những gia đình tín hữu này là những hòn đảo nhỏ mang sự sống Kitô giữa một thế giới ngoại giáo, và mỗi gia đình đã thực sự là một Hội Thánh tại gia.

1. Gia đình là Hội Thánh tại gia

Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thế giới xa lạ và đôi khi thù nghịch với đức tin. Gia đình tín hữu có vai trò quan trọng nhất, vì là những ngọn đuốc đức tin sống động và chiếu sáng. Trong gia đình như một Hội Thánh nhỏ, ước gì cha mẹ là những người đầu tiên dùng gương lành và lời nói mà truyền dạy đức tin cho con cái, cũng như cổ võ ơn gọi riêng của từng đứa con và đặc biệt chăm sóc đến ơn gọi linh mục[3].

Gia đình là nơi thể hiện đặc biệt chức tư tế cộng đồng của người cha, người mẹ, con cái và mọi phần tử trong gia đình, nhờ lãnh nhận các bí tích, nhờ kinh nguyện, tạ ơn và chứng từ đời sống thánh thiện, hy sinh và đức ái hữu hiệu. Gia đình là trường học đầu tiên về đời sống Kitô giáo, và là một trường học phát triển nhân tính. Chính trong gia đình, người ta học biết làm việc với sự nhẫn nại và vui thích, học biết tình bác ái huynh đệ, sự quảng đại tha thứ, nhất là sự phụng thờ Thiên Chúa qua kinh nguyện và hy lễ đời sống[4].

2. Gia đình tham dự vào cuộc sống của Hội Thánh

Cũng như Hội Thánh, gia đình Kitô hữu được mời gọi:

– Sống mầu nhiệm hiệp thông của Chúa Ba Ngôi.

– Đón nhận và thông truyền ơn cứu rỗi.

2.1. Sống mầu nhiệm hiệp thông của Chúa Ba Ngôi

Nơi Thiên Chúa Ba Ngôi, Thánh Thần là tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con, phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con. Còn nơi gia đình nhân loại, người con là kết quả của tình yêu giữa cha và mẹ. Sự so sánh không nhằm nói đến sự song song và tương ứng về quan hệ giữa các ngôi vị, nhưng nhằm nói đến sự tương tự về tình yêu thương hiệp nhất. Nơi mầu nhiệm Thiên Chúa, ba ngôi vị thần linh phân biệt với nhau, ngôi này không phải là ngôi kia, nhưng lại không hề tách rời nhau, mà chỉ là một Thiên Chúa duy nhất. Mầu nhiệm ấy là nguồn gốc và mẫu mực cho các gia đình[5].

2.2. Đón nhận và thông truyền ơn cứu rỗi

“Trước hết chính Mẹ Hội Thánh sinh ra, giáo dục, xây dựng gia đình Kitô hữu, bằng cách thực hiện cho nó sứ mạng mà Hội Thánh đã nhận được từ nơi Chúa mình. Khi loan báo Lời Chúa, Hội Thánh mặc khải cho gia đình Kitô hữu chân tính của nó, nói khác đi, cho biết gia đình là gì và phải trở nên thế nào theo ý định của Thiên Chúa. Khi cử hành bí tích, Hội Thánh làm phong phú và củng cố gia đình Kitô hữu với ơn của Đức Kitô để thánh hoá nó mà tôn vinh Chúa Cha. Khi canh tân lại lời công bố giới răn mới về đức ái, Hội Thánh làm sinh động và hướng dẫn gia đình Kitô hữu vào việc phục vụ tình yêu, để giúp nó bắt chước và sống lại chính tình yêu hiến mình và hy sinh mà Chúa Giêsu đã dành cho toàn thể nhân loại.

Đến lượt mình, gia đình Kitô hữu cũng hoà nhập vào trong mầu nhiệm Hội Thánh đến độ được dự phần vào sứ mạng cứu rỗi đặc biệt của Hội thánh theo cách riêng của mình. Nhờ ơn Bí tích Hôn phối  “trong bậc sống và trong lãnh vực của họ, đôi bạn và cha mẹ Kitô hữu cũng có được ơn riêng dành cho họ trong lòng dân Thiên Chúa”. Do đó, không những họ “nhận được” tình yêu của Đức Kitô để trở nên một cộng đồng “được cứu rỗi”, mà còn còn được mời gọi truyền đạt cho anh chị em của họ chính tình yêu của Đức Kitô, và như thế, họ trở nên một cộng đồng cứu rỗi người khác.

Gia đình Kitô hữu không những nhận được tình yêu của Đức Kitô để trở nên một cộng đồng được cứu rỗi, mà còn được mời gọi truyền đạt cho các anh chị em khác chính tình yêu của Đức Kitô. Do đó, một đàng gia đình Kitô hữu là hoa quả và dấu chỉ của sự phong phú siêu nhiên của Hội Thánh, nhưng đàng khác nó còn là biểu tượng, chứng tích và san sẻ thiên chức làm mẹ của Hội Thánh[6].”

3. Gia đình tham dự vào sứ mạng của Hội Thánh

Gia đình Kitô hữu được mời gọi góp phần tích cực và có trách nhiệm vào cuộc sống và sứ mạng của Hội Thánh với tư cách là một cộng đồng thân mật của sự sống và tình yêu, một cộng đồng tham dự vào sứ mạng làm vua, tư tế và tiên tri của Đức Kitô và của Hội Thánh Ngài. Chính tình yêu và sự sống kết thành tâm điểm cho sứ mạng cứu độ của gia đình Kitô hữu trong Hội Thánh và vì Hội Thánh.

3.1. Gia đình Kitô hữu, cộng đồng tin và loan báo Tin mừng 
(sứ mạng tiên tri)

Trước hết, gia đình Kitô hữu sống vai trò tiên tri của mình bằng cách đón nhận Lời Thiên Chúa là Đấng mặc khải cho họ cái mới mẻ kỳ diệu trong đời sống hôn nhân và gia đình. Chỉ trong đức tin họ mới có thể, với một niềm vui sướng và biết ơn, khám phá và thán phục phẩm giá của hôn nhân và gia đình mà Thiên Chúa đã nâng cao, bằng cách lấy đó làm dấu chỉ và môi trường của giao ước yêu thương giữa Thiên Chúa và con người, giữa Đức Kitô và Hội Thánh.

Ngay việc chuẩn bị hôn nhân đã mang tính cách của một hành trình đức tin. Đó là một thời gian đặc biệt giúp cho những người đính hôn tái khám phá và đào sâu về đức tin của mình, để họ có thể đón nhận một cách tự do ơn gọi sống theo gương Đức Kitô và phục vụ Nước Thiên Chúa trong chính bậc sống hôn nhân và gia đình.

Giây phút quyết liệt mà hai người, trong tư cách đôi bạn, bày tỏ đức tin, là lúc họ cử hành bí tích Hôn phối. Do bản chất sâu xa, việc cử hành này là một sự công bố trong Hội Thánh về Tin mừng của tình yêu hôn nhân: Đó là Lời Thiên Chúa mặc khải và hoàn tất dự định đầy khôn ngoan và yêu thương mà Ngài đã có đối với đôi bạn khi dẫn họ tới chỗ tham dự một cách nhiệm mầu và thực sự vào chính tình yêu của Ngài đối với loài người.

Việc tuyên xưng đức tin này đòi hỏi phải được kéo dài suốt cuộc đời của đôi bạn. Trong và qua các sự kiện, các vấn đề, các khó khăn, các biến cố của cuộc sống thường ngày, Thiên Chúa đến với họ và nêu lên cho họ những đòi hỏi cụ thể, để họ dự phần vào tình yêu của Đức Kitô đối với Hội Thánh.

Khám phá ý định của Thiên Chúa và tuân phục ý định ấy là hai việc phải được thực hiện cùng một lúc trong cộng đồng hôn nhân và gia đình, qua kinh nghiệm nhân bản về tình yêu giữa đôi bạn, cũng như giữa cha mẹ và con cái, khi tình yêu ấy được sống trong Thần Khí Đức Kitô.

Tùy mức độ đón nhận Tin mừng và trưởng thành trong đức tin, mà gia đình Kitô hữu trở nên một cộng đồng loan báo Tin mừng. Sứ mạng loan báo Tin mừng này bắt nguồn từ bí tích Rửa tội và nhận được nơi bí tích Hôn phối một sức đẩy mới, để họ có thể truyền đạt đức tin, thánh hóa và biến đổi xã hội theo ý định của Thiên Chúa.

3.2. Gia đình Kitô hữu, cộng đồng đối thoại với Thiên Chúa 
(sứ mạng tư tế)

Khi chu toàn sứ mạng hôn nhân và gia đình của mình nhờ sức mạnh của bí tích Hôn phối, gia đình Kitô hữu được đổ tràn tinh thần của Đức Kitô, nhờ đó tất cả đời sống của họ thấm nhuần đức tin, đức cậy, đức mến, ngày càng tiến tới sự trọn lành riêng biệt của họ và sự thánh hóa lẫn nhau, cùng nhau góp phần tôn vinh Thiên Chúa. Đó là vai trò tư tế mà gia đình Kitô hữu có thể và phải chu toàn trong sự kết hợp mật thiết với toàn thể Hội Thánh, qua những thực tại hằng ngày của đời sống hôn nhân và gia đình.

Gia đình Kitô hữu cố gắng chu toàn ơn gọi và vai trò tư tế của mình không những bằng việc cử hành Thánh Thể và các bí tích khác hoặc bằng việc hiến dâng chính mình cho vinh quang Thiên Chúa, nhưng còn bằng đời sống cầu nguyện, tức là đối thoại bằng kinh nguyện với Chúa Cha nhờ Đức Kitô và trong Chúa Thánh Thần.

Kinh nguyện không phải là một sự chạy trốn các trách nhiệm thường ngày, nhưng chính là sức đẩy thôi thúc các gia đình Kitô hữu đến chỗ đảm nhận các trách nhiệm làm tế bào đầu tiên và căn bản của xã hội nhân loại và chu toàn đầy đủ các trách nhiệm ấy. Theo nghĩa đó, việc gia đình Kitô hữu tham dự vào cuộc sống và sứ mạng của Hội Thánh sẽ biến chuyển theo tỷ lệ của sự cầu nguyện trung thành và sâu đậm, nhờ đó gia đình Kitô hữu được kết hợp với cây nho sai trái là Đức Kitô.

3.3. Gia đình Kitô hữu, một cộng đồng phục vụ con người 
(sứ mạng vương đế)

Hội Thánh có sứ mạng hướng tất cả mọi người tới chỗ đón nhận Lời Thiên Chúa trong đức tin, cử hành và công bố đức tin ấy trong các bí tích và kinh nguyện, sau cùng diễn tả đức tin ấy qua những thực tại cụ thể của đời sống phù hợp với giới răn mới về tình yêu. Cũng vậy, gia đình Kitô hữu được Luật mới của Thánh Thần linh hoạt và hướng dẫn, và được mời gọi sống tình yêu phục vụ đối với Thiên Chúa và tha nhân trong sự hiệp thông mật thiết với Hội Thánh là dân tộc vương giả.

Tinh thần và thái độ phục vụ của gia đình Kitô hữu được thực hiện trước hết giữa đôi bạn và gia đình của họ, rồi được mở rộng cho cộng đồng Hội Thánh, và sau cùng phải vượt qua phạm vi những anh em cùng đức tin, bởi vì “mọi người đều là anh em của tôi”. Đó là một tình bác ái biết nhận ra nơi mỗi người khuôn mặt của Đức Kitô và là một người anh em mà mình phải yêu mến và phục vụ, nhất là khi họ nghèo túng, yếu đuối, đau khổ hoặc bị đối xử bất công.

Để có thể đào tạo những con người biết yêu thương và sống yêu thương trong mọi tương quan với người khác, gia đình Kitô hữu sẽ không tự khép kín, nhưng mở ra cho cộng đồng, hướng tới cộng đồng nhờ ý thức về công lý và nhờ sự quan tâm lo lắng cho người khác, cũng như nhờ bổn phận trong trách nhiệm riêng của gia đình đối với toàn thể xã hội.

Hội Thánh vừa thánh thiện lại vừa gồm những con người bất toàn đang lần bước trên trần thế. Giữa lúc văn hoá tiêu thụ phát triển nhanh đến chóng mặt, khiến nhiều giá trị truyền thống bị sụp đổ, nhiều gia đình đã tan vỡ và nhiều Kitô hữu cũng bị biến chất, gây nên biết bao gương xấu, làm méo mó gương mặt Hội Thánh, làm cho nhiều người phải nản lòng. Tuy nhiên tình thương và quyền năng của Thiên Chúa vẫn mãi mãi còn đó để cho ta tin cậy. Nỗ lực sống tốt lành của một gia đình Kitô hữu có vẻ như chẳng nghĩa lý gì giữa cơn lốc suy đồi đang ào ào thổi đến, nhưng thật ra nó sẽ là hạt men. Nó có thể đem lại niềm hy vọng cho một vòng đai nhỏ chung quanh nó và sẽ dần dần lan rộng. Rồi đến khi có nhiều gia đình Kitô hữu cùng hoà chung một lời chứng, tiếng nói của họ sẽ âm vang, sẽø đem lại niềm hy vọng cho nhân loại, và mọi người sẽ hiểu đúng bản chất của Hội Thánh. Vậy, “giữa một thế hệ ngang trái và tà vạy, anh em phải chiếu rạng như đuốc sáng trên thế gian” (Pl 2,15).

4 GHI NHỚ :

1. H. Tại sao gia đình Kitô hữu được gọi là Hội Thánh tại gia?

T. Gia đình Kitô hữu được gọi là Hội Thánh tại gia vì được tham dự vào sự sống và sứ mạng của Hội Thánh.

2. H. Gia đình Kitô hữu tham dự vào sự sống của Hội Thánh như thế nào?

T. Cũng như Hội Thánh, gia đình Kitô hữu được mời gọi sống mầu nhiệm hiệp thông của Thiên Chúa Ba Ngôi, đón nhận và thông truyền ơn cứu rỗi.

3. H. Gia đình Kitô hữu tham dự vào sứ mạng của Hội Thánh như thế nào?

T. Cũng như Hội Thánh, gia đình Kitô hữu được mời gọi trở nên một cộng đồng tin và loan báo Tin mừng, đối thoại với Thiên Chúa và phục vụ con người.

 

4 GỢI Ý SUY NGHĨ :

1. Tại sao “Gia đình lại được gọi là Hội Thánh tại gia”? Giữa gia đình và Hội Thánh có liên hệ như thế nào?

2. Hội Thánh một cách cụ thể chính là giáo xứ của anh chị. Anh chị đã tham dự và đóng góp vào đời sống của giáo xứ như thế nào? Đâu là những trở ngại khiến anh chị đứng ngoài lề giáo xứ?

4 CẦU NGUYỆN :

Lạy Thánh Gia Nadarét, là gương mẫu của đời sống thánh thiện, công bình và yêu thương, xin cho gia đình chúng con trở nên nơi đào tạo nhân đức, trong hiền hòa, phục vụ và cầu nguyện.

Xin cho chúng con biết cố gắng xây dựng gia đình thành nơi an ủi giữa cuộc đời đầy thử thách. Xin cho chúng con biết làm cho mọi người trong gia đình được thăng tiến, để góp phần vào việc phát triển xã hội và cộng tác trong việc xây dựng Giáo hội.

Xin Ba Đấng luôn hiện diện trong gia đình chúng con, khi vui cũng như lúc buồn, khi làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi, khi lo âu cũng như lúc hy vọng, khi sinh con cũng như lúc có kẻ qua đời, để dù gặp phải những thăng trầm của cuộc sống, chúng con vẫn luôn chúc tụng Chúa, cho đến ngày được sum họp với Ba Đấng trong Nước Trời. Amen


Trở về trang Mục Lục


[1] x. Cv 18, 8

[2] x. Cv 16, 3; 11, 14

[3] GLHT 1656

[4] GLHT 1657

[5] x. Ep 3,14-15

[6] GĐ 49

 

Bài 14

Linh đạo hôn nhân và gia đình

  Ý muốn của Thiên Chúa là anh em nên thánh.
(1 Tx 4, 3)

Trong ngày thành hôn, đôi tân hôn nào cũng được cầu chúc: “Trăm năm hạnh phúc”. Một gia đình hạnh phúc, theo truyền thống văn hoá Việt Nam, là một gia đình “trên thuận dưới hoà, con cái hiếu thảo, vợ chồng yêu thương nhau”. Tuy nhiên, đối với người Kitô hữu, một gia đình hạnh phúc còn phải là một gia đình có Chúa Giêsu ở cùng, bởi vì Ngài chính là tình yêu nối kết tất cả gia đình.

“Ơn Đức Giêsu Kitô ban khi cử hành bí tích Hôn phối không bị múc cạn, nhưng vẫn theo sát đôi bạn trong suốt cả đời sống. Công đồng Vaticanô II nhắc lại điều ấy khi nói rằng Đức Giêsu Kitô “còn ở lại với họ để hai vợ chồng cũng mãi mãi trung thành yêu thương nhau bằng sự tự hiến cho nhau như Ngài đã yêu thương Hội Thánh và đã nộp mình vì Hội Thánh…” Khi chu toàn sứ mạng hôn nhân và gia đình của họ với sức mạnh của bí tích này, họ được đổ tràn tinh thần của Đức Kitô, nhờ đó tất cả đời sống của họ thấm nhuần đức tin, đức cậy, đức mến và càng ngày họ càng tiến tới sự trọn lành riêng biệt của họ và sự thánh hoá lẫn nhau; và bởi đó, họ cùng nhau góp phần tôn vinh Thiên Chúa[1]“.

Như vậy, nhờ Bí tích Hôn phối, đôi vợ chồng Kitô hữu nhận được những ơn riêng để sống ơn gọi hôn nhân và gia đình. Những ơn đó giúp họ cùng nhau xây dựng một gia đình hạnh phúc, đồng thời cũng giúp họ nên thánh trong đời sống hôn nhân và gia đình.

1. Mọi Kitô hữu được mời gọi nên thánh

1.1. Bổn phận nên thánh

Khi chịu phép Rửa tội, người tín hữu không những được rửa sạch mọi tội lỗi mà còn trở nên “một thụ tạo mới” (2 Cr 5,17), thành nghĩa tử của Thiên Chúa (x. Gl 4,5-7), “được thông phần bản tính Thiên Chúa” (2 Pr 1,4), thành chi thể Đức Kitô (x. 1 Cr 6,15; 12,27) và thành đền thờ Chúa Thánh Thần (x. 1 Cr 6,19)[2]. Nói cách khác, nhờ phép Rửa, người Kitô hữu đã chết đối với tội lỗi để sống một cuộc sống mới. Đó là cuộc sống làm con cái Chúa Cha trong Chúa Giêsu Kitô[3], dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần[4]. Bởi vậy, mọi Kitô hữu đều được mời gọi nên thánh: “Anh em hãy sống thánh thiện trong cách ăn nết ở, để nên giống Đấng Thánh đã kêu gọi anh em, vì có lời Kinh Thánh chép: Hãy sống thánh thiện, vì Ta là Đấng Thánh” (1 Pr 1,15-16).

Việc nên thánh không phải chỉ dành riêng cho các linh mục và tu sĩ mà còn dành cho mọi tín hữu. Thánh Phanxicô Salêsiô nói: “Mọi giáo dân đều được mời gọi nên thánh và họ có thể nên thánh như là chồng, là vợ, như là nông dân, là công nhân, là lính, là thương gia, y sĩ, thầy giáo, nghĩa là theo đủ mọi ngành nghề và hoàn cảnh trong xã hội”. Công đồng Vaticanô II nhắc lại: “Tất cả các Kitô hữu, bất kể thuộc bậc sống hay địa vị nào, đều được kêu gọi tiến đến sự viên mãn của đời sống Kitô giáo và đến sự trọn lành của Đức Ái[5]“. “Đạt tới viên mãn của đời sống Kitô giáo và sự trọn lành của Đức Ái”, đó chính là nên thánh[6].

1.2. Linh đạo: con đường nên thánh

Trong Hội Thánh, có nhiều bậc sống khác nhau, nên cũng có nhiều con đường nên thánh khác nhau tuỳ theo mỗi bậc sống. Linh mục, tu sĩ có cách nên thánh của linh mục, tu sĩ. Giáo dân cũng có cách nên thánh riêng của mình. Con đường nên thánh dành cho mỗi bậc sống như vậy được gọi là linh đạo. Con đường này do Chúa Thánh Thần khơi dậy, để giúp người tín hữu bước theo Đức Kitô và đạt tới đức ái trọn hảo theo bậc sống của mình.

Từ xưa cho tới nay, Chúa Thánh Thần đã khơi dậy rất nhiều linh đạo khác nhau trong Hội Thánh. Chẳng hạn linh đạo Augustinô, linh đạo Bênêđictô, linh đạo Camêlô, linh đạo Phanxicô, linh đạo Đaminh, linh đạo Inhaxiô, linh đạo Anphongxô, linh đạo Salêdiêng… Tất cả tạo nên sự phong phú và đa dạng trong Hội Thánh, để giúp cho từng người tìm được con đường nên thánh phù hợp với khả năng, hoàn cảnh và bậc sống của mình.

2. Linh đạo Hôn nhân và Gia đình

Đối với các đôi vợ chồng, Công đồng Vaticanô II nói: “Nhờ sức thiêng của bí tích Hôn phối, các đôi vợ chồng Kitô hữu biểu hiện và tham dự vào mầu nhiệm hiệp nhất và tình yêu phong phú giữa Đức Kitô và Hội Thánh[7]; họ giúp nhau nên thánh trong đời sống hôn nhân, trong việc đón nhận và giáo dục con cái; nhờ đó, họ nhận được những ơn riêng cho bậc sống của mình trong Dân Chúa. Được ban cho những phương tiện cứu rỗi dồi dào như thế, mọi Kitô hữu, dù ở địa vị nào, bậc sống nào cũng, đều được Chúa kêu gọi đạt tới sự trọn lành thánh thiện như Chúa Cha là Đấng trọn lành, tuỳ theo con đường của mỗi người[8].

Trong Tông huấn Gia đình, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhắc lại: “Ơn gọi mọi người nên thánh cũng được ngỏ với các vợ chồng và cha mẹ Kitô hữu. Đối với họ, ơn gọi này được nêu bật trong việc cử hành bí tích Hôn phối và được thực hiện cách cụ thể trong thực tế riêng của cuộc sống hôn nhân và gia đình. Chính cuộc sống này làm nẩy sinh ra ân sủng và đòi hỏi phải có một linh đạo đích thực và sâu xa cho đời sống hôn nhân và gia đình. Linh đạo này được gợi hứng từ các chủ đề về sáng tạo, giao ước, thập giá, phục sinh và dấu hiệu bí tích[9]“.

Nếu linh đạo hôn nhân và gia đình cốt tại Tình yêu, “yêu như Thiên Chúa yêu” và được gọi hứng từ các chủ đề về Sáng tạo, Giao ước, Thập giá, Phục sinh và dấu hiệu bí tích, ta có thể diễn tả những nét chính của linh đạo hôn nhân và gia đình như sau:

2.1. Tình yêu sáng tạo

Vì yêu thương, Thiên Chúa đã sáng tạo vũ trụ và muốn cho con người được làm con của Ngài, sống hạnh phúc với Ngài mãi mãi[10]. Thiên Chúa dựng nên con người có nam có nữ, để yêu thương, chia sẻ, bổ túc nhau, đồng thời làm chủ những gì Chúa đã dựng nên. Vì thế, Ngài đã truyền cho họ: “Hãy sinh sản cho đầy mặt đất”(St 1,28).

Qua bí tích Hôn phối, đôi bạn được mời gọi cộng tác vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa bằng viẹâc sẵn sàng đón nhận con cái và giáo dục chúng nên người, tạo nên một tổ ấm phục vụ cho sự sống. Mỗi lần trao cho nhau những hành vi âu yếm, mở ngỏ cho sự sống, đôi bạn ý thức mình đang cộng tác vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa và nên thánh trong chính trong chính nếp sống đó. Khi chiêm ngắm tình yêu dịu dàng Thiên Chúa dành cho dân Israel, đôi vợ chồng biết luôn đổi mới tình yêu của mình qua những cử chỉ, lời nói, việc làm để đem lại hạnh phúc cho nhau và cho con cái. Trong việc giáo dục, cha mẹ ý thức mình là những người cộng tác của Thiên Chúa, nhờ đó không ngã lòng hoặc buông xuôi trước những đứa con bướng bỉnh, ngược lại, biết cậy trông vào ơn Chúa để luôn nhẫn nại, kiên trì, và yêu thương.

2.2. Tình yêu Giao ước

Thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã ký kết giao ước với dân Israel và ban cho họ Mười điều răn để hướng dẫn họ sống trung thành với giao ước. Ngài mời gọi họ: “Nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta. Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh” (Xh 19,5-6).

Thiên Chúa luôn trung thành với giao ước. Dù dân Israel bất trung, bội phản, Thiên Chúa vẫn một mực trung tín, xót thương và tha thứ. “Núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình nghĩa của Ta đối với người vẫn không thay đổi” (Is 54,10). “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương” (Gr 31,3).

Khi cử hành bí tích Hôn phối, đôi bạn trao đổi với nhau lời thề hứa sẽ yêu thương và trung chuỷ với nhau suốt đời: “Tôi là…. nhận (anh / em) làm (chồng / vợ) và hứa giữ lòng chung thuỷ với (anh / em), khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi ốm đau cũng như lúc mạnh khoẻ, để yêu thương và tôn trọng (anh / em) suốt đời tôi”.

Ơn bí tích Hôn phối giúp hai vợ chồng nên thánh trong việc sống lời cam kết trên mỗi ngày một trọn vẹn hơn. Khi nỗ lực sống yêu thương và trung thành với nhau, đôi vợ chồng phản ánh tình yêu của Thiên Chúa đối với con người, cũng như tình yêu của Đức Kitô đối với Hội Thánh. Đó là một tình yêu son sắt không đổi thay. Tình yêu đó tạo nên sự hiệp thông thâm sâu giữa vợ chồng với nhau, cũng như giữa cha mẹ và con cái, phản ánh mầu nhiệm hiệp thông trong Hội Thánh.

Thư Mục vụ HĐGM VN năm 1992 cũng viết: “Sống Phúc Âm trong đời sống gia đình chính là sống tình yêu chung thuỷ mà con người đời nào cũng khát khao ca tụng và đã được Chúa Giêsu củng cố bằng bí tích Hôn phối. Chính Chúa Giêsu còn dựa vào sách Sáng thế để tái lập quyền bình đẳng nam nữ và tinh thần bất khả phân ly của hôn nhân (St 2,18-24; Mt 19,6). Trong một xã hội mà đời sống gia đình đang bị đe dọa bởi nạn ly dị và những lối sống trái với luân lý đạo đức Việt Nam, sự trung thành giữa vợ chồng Kitô hữu sẽ là một ánh lửa soi sáng và sưởi ấm, một sự khuyến khích cho các gia đình khác”.

2.3. Tình yêu Thập giá

Trong bữa Tiệc ly, Chúa Giêsu nói: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng sống mình vì bạn hữu” (Ga 15,13. Ngài đã dùng cái chết trên thập giá để minh chứng Tình yêu của Thiên Chúa và để đem lại ơn cứu độ cho nhân loại. Con đường thập giá là con đường tình yêu, chấp nhận đau khổ để xoá bỏ tội lỗi và mang lại hạnh phúc cho người mình yêu. Thánh Phaolô đã khuyên nhủ các người làm chồng hãy nhìn vào gương Đức Kitô: “Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Ki-tô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh…, để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền” (Ep 5,25.27)

Đời sống hôn nhân và gia đình có rất nhiều thập giá: những khuyết điểm và tính xấu của nhau, những va chạm và xung khắc, những thất bại và rủi ro, những khi gặp tai ương và bệnh hoạn, cảnh hiếm muộn cũng như việc chấp nhận từ bỏ ý riêng để sống theo giáo huấn Hội Thánh về việc sinh sản có trách nhiệm v.v…. Đó là những thập giá cần được đón nhận với tình yêu. “Đời sống Kitô hữu mà không qua thập giá thì không thể đạt tới sự phục sinh. Như thế phải hiểu rằng không thể loại bỏ sự hy sinh trong đời sống gia đình, nhưng trái lại phải sẵn sàng đón nhận nó để tình yêu vợ chồng thêm sâu lắng và trở thành nguồn vui thân mật”[11].

Trong đời sống hôn nhân và gia đình, đôi bạn được mời gọi ngước nhìn lên thập giá Đức Kitô để học yêu thương, sống hi sinh, đón nhận nhau và tha thứ cho nhau. “Anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3,12-13).

Chính khi chấp nhận đi theo “con đường hẹp”, từ bỏ mình vác thập giá mình hằng ngày mà bước theo Đức Kitô, đôi vợ chồng cộng tác vào công trình cứu độ cho mình và cho mọi người trong gia đình.

2.4. Tình yêu Phục sinh

Đức Kitô phục sinh đã ra khỏi mồ. Ngài đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, mang lại sự sống mới cho nhân loại cùng giao hoà tội nhân với Chúa Cha.

Trong đời sống hôn nhân và gia đình, mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh mời gọi đôi bạn luôn canh tân tình yêu của mình, không để những ích kỷ, ghen tương len lỏi vào tình yêu đôi lứa. Phương thế để canh tân tình yêu, chính là siêng năng đọc Lời Chúa, cầu nguyện, lãnh nhận các Bí tích, học biết thêm những kiến thức mới trong sách vở, báo chí để nuôi dưỡng tình yêu gia đình.

Ngoài ra, gia đình Kitô hữu còn có sứ mạng truyền giáo, rao giảng Tin Mừng[12]. Gia đình phải cởi mở đón nhận Lời Chúa, rồi loan báo cho mọi người. Việc làm chứng và truyền giáo trước hết là trong chính gia đình: cha mẹ loan báo Tin Mừng cho con cái bằng những lời dạy dỗ và nhất là bằng gương sáng. Ngược lại, con cái cũng có bổn phận góp phần làm cho cha mẹ nên thánh.

Thư chung của Hội Đồng Giám Mục VN năm 1980 cũng nói: “Gia đình của anh chị phải trở nên như một trường học về đức tin, một nơi để cầu nguyện. Một môi trường sống bác ái yêu thương và rèn luyện tinh thần tông đồ để làm chứng cho Chúa”.

Gia đình Kitô hữu làm tông đồ bằng “chứng tá”. “Phải chứng minh rằng các con được gọi nên thánh và các con có thể sống một đời hôn nhân đẹp lòng Chúa. Các con chia sẻ với các gia đình khác: ân sủng, hạnh phúc, Chúa đã ban cho gia đình các con. Nhìn vào gia đình các con, thiên hạ phải đặt câu hỏi: “Tại sao họ có thể sống hiệp nhất, yêu thương, trung thành với nhau như thế?[13]

2.5. Tình yêu Bí tích

Nhờ bí tích Hôn phối, gia đình Kitô hữu trở thành bí tích của Thiên Chúa. Bí tích là một dấu chỉ hữu hình giúp người ta thấy được một điều vô hình. Gia đình là Bí tích, vì gia đình có thể giúp người ta nhận ra tình yêu Thiên Chúa.

“Cũng như tất cả mọi bí tích đều “có mục đích thánh hoá con người, xây dựng Thân Thể Đức Kitô và thờ phượng Thiên Chúa[14]“, Bí tích Hôn phối tự nó cũng là một hành vi phụng vụ để tôn vinh Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô và trong Hội Thánh. Khi cử hành bí tích ấy, đôi bạn Kitô hữu bày tỏ lòng biết ơn của họ đối với Thiên Chúa vì ơn huệ cao cả Ngài đã ban cho họ, để trong cuộc sống hôn nhân và gia đình, họ có thể sống lại chính tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người và tình yêu của Đức Kitô đối với Hội Thánh là hiền thê của Ngài[15]“.

Như vậy, qua bí tích Hôn phối, đôi vợ chồng Kitô hữu vừa là biểu hiệu mầu nhiệm của sự kết hợp và của tình yêu phong phú giữa Đức Kitô và Hội thánh, vừa tham dự vào mầu nhiệm này. Việc vợ chồng con cái yêu thương nhau là do Thiên Chúa nâng đỡ, nhưng đồng thời cũng cho thấy tình yêu Thiên Chúa và diễn tả tình yêu của Ngài.

Dấu chỉ Bí tích hôn phối được thể hiện qua lời cam kết trung thành yêu thương nhau và tôn trọng nhau suốt đời, qua việc trao cho nhau chiếc nhẫn cưới làm biểu hiệu tình yêu và lòng chung thuỷ. Chiếc nhẫn nhắc nhở cho đôi bạn những lời họ đã cam kết, để họ luôn nỗ lực sống tín trung và tôn trọng nhau “mọi ngày suốt đời”.

Tuy nhiên, để có thể diễn tả một cách trung thành tình yêu của Thiên Chúa, “yêu thương như Đức Kitô yêu thương Hội Thánh”, gia đình Kitô hữu cần phải có ơn Chúa. Con đường nên thánh trong đời sống hôn nhân và gia đình phải là con đường đối thoại với Thiên Chúa qua việc lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện và siêng năng lãnh nhận các bí tích.

“Do bí tích Hôn phối, đôi bạn nhận được sự thánh thiện và hằng ngày có nghĩa vụ phải sống sự thánh thiện đã nhận được. Cũng do bí tích ấy, họ nhận được ơn và có nghĩa vụ luân lý phải biến đổi toàn thể đời sống mình thành một hy lễ thiêng liêng dâng lên Thiên Chúa. Như thế, giáo dân cung hiến cho Thiên Chúa chính thế giới này, nhờ biết phụng thờ Ngài khắp nơi bằng đời sống thánh thiện của mình[16]

3. Noi gương Thánh Gia

Thánh Giuse và Đức Maria là đôi vợ chồng thánh thiện, đã nêu gương cho các đôi vợ chồng Kitô hữu. Sở dĩ gọi là Thánh Gia, chính vì gia đình của Giuse – Maria gồm những con người thánh, đặc biệt có Chúa Giêsu là Đấng Thánh ở cùng. Con đường nên thánh trong yêu thương và chu toàn bổn phận gia đình chính là con đường mà Thánh Gia ngày xưa đã đi qua. Mỗi gia đình Kitô hữu ngày nay cũng được mời gọi noi gương Thánh Gia để trở thành những thánh gia khác. Đó là những cộng đồng yêu thương và hiệp nhất, mà khuôn mẫu là sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa. Sự hiệp thông này không khép kín nhưng mở ra với các gia đình khác và nhất là vươn lên tới chính Thiên Chúa Tình yêu.

Khi nhìn vào gương Thánh Gia, gia đình Kitô hữu cũng được mời gọi phát triển lòng tôn sùng Đức Trinh Nữ Maria: “Khi được diễn tả bằng các tương quan chân thành với Đức Trinh Nữ và bằng việc noi theo đời sống thiêng liêng của ngài, lòng tôn sùng Đức Mẹ đích thực là một phương tiện đặc biệt để nuôi dưỡng sự hiệp thông tình yêu trong gia đình và để phát triển linh đạo hôn nhân và gia đình. Mẹ của Đức Kitô và của Hội Thánh, một cách đặc biệt cũng là Mẹ của các gia đình Kitô hữu là những Hội Thánh tại gia[17]“.

 

 

4 GHI NHỚ :

1. H. Nên thánh là gì?

T. Nên thánh là “sống hoàn thiện như Cha trên trời”, trở nên giống Đức Kitô bằng cách sống yêu thương và chu toàn bổn phận.

2. H. Những ai trong Hội Thánh được mời gọi nên thánh?

T. Mọi Kitô hữu đều có bổn phận nên thánh trong bậc sống của mình.

3. H. Linh đạo hôn nhân và gia đình là gì?

T. Linh đạo hôn nhân và gia đình là con đường nên thánh dành cho những người sống bậc hôn nhân và gia đình.

4. H. Linh đạo hôn nhân và gia đình hệ tại ở điểm nào?

T. Linh đạo Hôn nhân và gia đình hệ tại ở Tình Yêu, lấy Tình yêu của Thiên Chúa đối với con người và Tình yêu của Đức Kitô đối với Hội Thánh làm khuôn mẫu.

5. H. Linh đạo hôn nhân và gia đình được gợi hứng từ đâu?

T. Theo Tông huấn Gia đình, “Linh đạo hôn nhân và gia đình phải được gợi hứng từ các chủ đề về Sáng tạo, Giao ước, Thập giá, Phục sinh và dấu hiệu bí tích.

6. H. Để thực hành linh đạo hôn nhân và gia đình, đôi vợ chồng cần sống thế nào?

T. Để thực hành linh đạo hôn nhân và gia đình, đôi vợ chồng cần có :

-Một là tình yêu sáng tạo để sinh sản và giáo dục con cái.

-Hai là tình yêu trung thành để sống lời cam kết hôn nhân mỗi ngày một trọn vẹn hơn.

-Ba là tình yêu hi sinh để vui nhận vác thánh giá hàng ngày.

-Bốn là canh tân đời sống, làm chứng và loan báo Tin Mừng.

-Năm là siêng năng cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích.

4 GỢI Ý SUY NGHĨ :

1. Một người vợ tâm sự: “Từ khi hiểu biết Chúa Giêsu nhiều hơn và tình yêu của Ngài bắt đầu thấm sâu vào đời con, đã có một sự thay đổi rất lớn trong quan hệ của con với chồng. Có thể nói con như yêu anh ấy một lần nữa sau 15 năm kết bạn với nhau. Mọi ước mơ trong lòng và mọi khát vọng thiêng liêng của con đã đơm bông kết trái”. Anh chị nghĩ thế nào về điều này?

2. Theo anh chị, con đường nên thánh trong gia đình có phải là con đường giúp cho gia đình anh chị đạt được hạnh phúc không? Đâu là yếu tố nòng cốt làm cho gia đình được hạnh phúc?

3. Nhìn vào gương Thánh Gia, anh chị học được điều gì cho gia đình mình?

4 CẦU NGUYỆN :

Lạy Chúa, Chúa đã muốn chúng con làm thành một gia đình Công giáo, một cộng đoàn yêu thương, để trở nên dấu chỉ tình thương của Chúa giữa lòng cuộc đời. Xin cho mọi người trong gia đình chúng con sốt sắng thờ phượng, kính mến Chúa và hết lòng hoà thuận thương yêu nhau.

Xin cho chúng con nhiệt thành sống đức tin, hôm sớm cầu nguyện chung với nhau làm cho gia đình trở thành một đền thờ sống động của Chúa, siêng năng tham dự phụng vụ, chuyên cần học hỏi Lời Chúa và đem ra thực hành.

Trong lúc gia đình chúng con vất vả làm việc, gặp vui mừng hay thử thách, xin cho chúng con biết luôn luôn tin tưởng vào sự quan phòng của Chúa.

Đối với những gia đình chung quanh, xin cho chúng con biết thật lòng yêu mến, sẵn sàng chia sẻ vật chất cũng như tinh thần, nhất là chia sẻ Tin mừng tình thương của Chúa cho họ.

Lạy Chúa, chúng con xin dâng gia đình chúng con cho Chúa, chúng con nguyện sống theo gương Thánh Gia mỗi ngày. Xin chúc lành cho mỗi người trong gia đình chúng con, có mặt cũng như vắng mặt, còn sống hay đã qua đời, hầu bây giờ chúng con trở nên ánh sáng tình thương của Chúa, và ngày sau được sum họp với nhau bên Chúa muôn đời. Amen.


[1] GĐ 56

[2] x. GLHT 1265

[3] x. Ep 1,3-7

[4] Rm 8,14

[5] GH 40

[6] x. GLHT 826

[7] x. Ep 6,32

[8] GH 11

[9] GĐ 56

[10] x. Ep 1,3-6

[11] GĐ 34

[12] GLHT 2205

[13] x. ĐHY Phanxicô Nguyễn Văn Thuận, Đường Hy Vọng, 501

[14] PV 59

[15] GĐ 56

[16] x. GĐ 56

[17] GĐ 61

 

Bài 15

Các bí tích trong đời sống
Hôn nhân và gia đình

 Các tín hữu chuyên cần tham dự những buổi giáo lý của các tông đồ, 
hiệp thông huynh đệ, bẻ bánh và cầu nguyện.
 
Hằng ngày họ hợp nhất một lòng một ý cùng nhau ở trong đền thờ,
 
bẻ bánh ở nhà, họ dùng bữa cách vui vẻ đơn sơ.
 
(Cv 2,42.46)

Đức Kitô đã để lại cho Hội Thánh những bí tích, là những dấu chỉ hữu hình diễn tả và đem lại ơn thánh cho các tín hữu. Các bí tích có mục đích thánh hoá con người, xây dựng thân thể Đức Kitô và thờ phượng Thiên Chúa[1].

Bảy Bí tích liên quan đến các giai đoạn và các thời điểm quan trọng của đời sống người Kitô hữu: Bí tích sinh ra (Rửa tội), lớn lên (Thêm sức, Thánh Thể), chữa lành (Hoà giải, Xức dầu) và lãnh nhận sứ mạng xây dựng cộng đoàn (Truyền chức, Hôn phối). Nhờ lãnh nhận các bí tích, đời sống Kitô hữu được nuôi dưỡng và mỗi ngày một tăng trưởng hơn.

1. Hôn phối và Rửa tội

Nhờ bí tích Rửa tội, người Kitô hữu được tái sinh làm con cái Thiên Chúa, làm chi thể Đức Kitô và Đền thờ Chúa Thánh Thần[2]. Họ được tháp nhập vào Hội Thánh là Thân Thể Đức Kitô và là Gia Đình con cái Thiên Chúa. Như vậy, bí tích Rửa tội chính là cánh cửa dẫn vào đời sống hiệp thông: hiệp thông với nhau và Hiệp thông với Thiên Chúa.

Bí tích Hôn phối tăng cường và cụ thể hoá sự hiệp thông mà bí tích Rửa Tội đã đem lại.

1.1. Đối với hai vợ chồng:

Nhờ bí tích Hôn phối, đôi bạn được thông phần giao ước tình yêu của Đức Kitô và Hội Thánh: “Bởi thế, người ta sẽ lìa bỏ cha mẹ mình mà kết hợp với vợ mình và cả hai nên một thân xác. Mầu nhiệm này thật lớn lao, tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh” (Ep 5,31-32). Như vậy, lòng trung thành và tình yêu, mà đôi bạn trao cho nhau trong giao ước Hôn nhân, cũng chính là lòng trung thành trong đức tin và đức mến, mà mỗi người đã tuyên hứa khi chịu phép Rửa Tội. Vì thế, khi cùng sống Bí tích Rửa tội, họ cũng thực hiện chính lời giao ước Hôn nhân của mình.

1.2. Đối với con cái:

Bí tích Rửa tội rất cần cho được sống đời đời: “Ai không sinh lại bởi nước và Thánh Thần, thì không thể vào được Nước Thiên Chúa” (Ga 3,5). Phép Rửa tha tội tổ tông và cả những tội riêng ta phạm trước đó, ban ơn thánh hoá, sinh ta làm con Thiên Chúa và con Hội Thánh. Do đó, hai vợ chồng cần đặc biệt quan tâm thực hiện việc Rửa tội cho con cái tùy theo các trường hợp sau đây:

a) Trường hợp thông thường:

Khi cháu bé được chừng một tháng, cha mẹ và người đỡ đầu đưa cháu đến nhà thờ xin cha xứ rửa tội cho. Đây là dịp tốt để mọi người ý thức và sống ơn gọi Kitô hữu của mình, nên rất khuyến khích mọi người trong gia đình và trong giáo xứ tham dự. Có thể tổ chức việc mừng “đầy tháng” cho con vào ngày Rửa tội.

b) Trường hợp nguy tử:

Nếu con chưa được rửa tội mà đau nặng, thì cha mẹ cần lo liệu cho con được rửa tội ngay, bằng cách:

– Hoặc chính cha hay mẹ, hoặc nhờ người khác, rửa tội cho con như sau: lấy nước lã đổ trên trán con, vừa đổ vừa đọc: “T. (tên thánh và tên gọi), cha (mẹ) rửa con: nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Khi làm việc này cần làm theo ý của Hội Thánh.

– Ghi vào sổ gia đình Công giáo và sớm trình cho cha xứ.

– Khi con khỏe lại, nên đưa con tới cha xứ xin lãnh nhận các nghi thức bổ túc.

c) Trường hợp tối khẩn:

– Khi khó sinh: Mọi bào thai phải được rửa tội dù nó được bao nhiêu tháng. Nếu bào thai chắc chắn còn sống, thì rửa tội cách tuyệt đối: “…., cha (mẹ) rửa con: nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.

– Nếu không biết rõ thai còn sống hay chết, thì rửa tội hồ nghi: “…., nếu con còn sống, cha (mẹ) rửa con, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.

– Khi sẩy thai, thì xé bọc thai rồi đổ nước hoặc dìm vào nước, và đọc: “Nếu thành, ta rửa con, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.

2. Hôn phối và Thêm sức

Bí tích Thêm sức làm cho người tín hữu được đầy ơn Chúa Thánh Thần, để trở nên chứng tá đức tin, có nhiệm vụ bảo vệ và mở mang Nước Chúa.

Khi lãnh Bí tích Hôn phối, đôi bạn trở thành nhân chứng cho tình yêu tự hiến của Đức Kitô và xây dựng Nước Chúa trong chính bậc sống hôn nhân của mình. Những hy sinh, đau khổ và thử thách trong cuộc sống chung, sự giáo dục con cái nên người con Chúa, đều là những công việc quý giá góp phần mở mang Nước Chúa. Chính ơn sức mạnh của Chúa Thánh Thần sẽ giúp đôi bạn chu toàn những nhiệm vụ trên. Nơi Bí tích Hôn phối, “chính Chúa Thánh Thần là dấu ấn hôn ước của hai vợ chồng, là nguồn mạch tình yêu của họ, là sức mạnh giúp họ chung thuỷ[3]“.

Đối với gia đình Kitô hữu, sống bí tích Thêm sức là:

– Quý trọng ơn Chúa Thánh Thần, quan tâm lo cho mọi người trong gia đình lãnh nhận bí tích Thêm sức.

– Liệu cho chính gia đình mình có một kế hoạch truyền giáo, quan tâm thực hiện và thường xuyên kiểm điểm để thực hiện tốt hơn.

3. Hôn phối và Hoà giải

Trước khi lãnh bí tích Hôn phối, Hội Thánh khuyên đôi bạn xưng tội để tâm hồn được trong sạch, xứng đáng đón nhận dồi dào ân huệ Chúa ban trong ngày thành hôn.

Suốt quá trình chung sống, đôi bạn sẽ không sao tránh hết mọi khuyết điểm, sai sót. Những sai sót về tình yêu, về lòng trung thành, về đức nhẫn nại… có thể làm họ chán nản. Bấy giờ, Bí tích Hoà giải sẽ xóa đi những lỗi lầm ấy và ban nhiều ơn giúp đôi bạn phấn khởi vững bước trong cuộc sống hôn nhân, với nhiều cố gắng mới. Cũng nhờ Bí tích Hoà giải, họ ý thức được những buồn phiền đã gây ra cho nhau, từ đó trở nên xả kỷ và quảng đại hơn; họ cũng phấn đấu sống hoà hợp với các phần tử khác trong gia đình và lối xóm. Bí tích Hoà giải mời gọi gia đình luôn hoán cải theo Tin Mừng.[4]

Người sạch sẽ thay quần áo trước khi bẩn và giặt ủi liền sau khi thay. Cũng thế, người tín hữu tốt, dù không có sai lỗi gì trầm trọng, vẫn cố gắng xưng tội thường xuyên, khoảng hai hay ba tháng một lần. Đàng khác, không chờ đến ngày xưng tội mới xét mình, nhưng nên kiểm điểm đời sống hằng ngày: Xét mình mỗi tối, để đáp lại tiếng Chúa cách quảng đại hơn. Muốn chiến thắng tội lỗi, cần dứt khoát ngay từ đầu, tránh xa các dịp tội và loại trừ cả những lệch lạc nhỏ bé nhất, ngay khi nó chỉ mới là một ý tưởng manh nha.

4. Hôn phối và Thánh Thể

Ơn vô giá mà đôi bạn được hưởng trong thánh lễ Hôn nhân là Hiệp lễ. Lúc ấy, hai vợ chồng được tham dự vào chính giao ước tình yêu giữa Đức Kitô và Hội Thánh. Nhờ kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu, họ được Ngài làm bạn đồng hành, được Ngài trợ lực suốt cuộc đời để họ nên một trong Ngài và để họ có thể yêu nhau, không phải bằng một tình yêu đầy giới hạn của mình, nhưng bằng chính tình yêu vô biên của Ngài.

Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch tình yêu, mời gọi vợ chồng trở nên một thân thể duy nhất và chia sẻ cho nhau. Năng đến với Bí tích Thánh Thể, vợ chồng sẽ được Chúa Giêsu biến đổi để trở nên tấm bánh tình yêu bẻ ra trao tặng cho nhau: tấm bánh của sự sống, của niềm vui, của tha thứ và của sự tâm đầu ý hợp. Bí tích Thánh Thể chính là sức sống nuôi dưỡng, củng cố và đổi mới tình yêu của đời sống hôn nhân và gia đình. Nhờ tình yêu siêu nhiên ấy, họ dễ lướt thắng những bực bội, buồn phiền. Nhờ thánh lễ, cuộc sống hằng ngày của gia đình trở thành “hy lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa[5]“.

Để được khoẻ mạnh, chẳng những phải tránh bệnh tật, mà còn phải ăn uống đầy đủ và tập thể dục. Đối với người tín hữu, dinh dưỡng là năng rước lễ và chăm đọc Lời Chúa, tập thể dục là cầu nguyện sâu xa và kiểm điểm đời sống hằng ngày.

5. Hôn phối và Truyền Chức thánh

Hôn phối và Truyền Chức thánh là hai bí tích phục vụ cộng đoàn do chính Đức Kitô thiết lập, là Hội Thánh.

Bí tích Hôn Phối gia tăng số con cái trong Hội Thánh, bí tích Truyền Chức tuyển chọn các tác viên phục vụ Hội Thánh. Chính ơn gọi làm linh mục được gieo mầm từ trong gia đình, nên gia đình được gọi là “Chủng viện sơ khởi[6]“.

Hội Thánh ước mong rằng không những các đôi vợ chồng quan tâm nâng đỡ các ơn gọi linh mục và tu sĩ, mà còn tha thiết muốn dâng con cái mình làm việc tông đồ phụng sự Chúa. Do đó, Công đồng Vaticanô II khuyên: “Cha mẹ hãy thận trọng giúp đỡ con cái lựa chọn ơn gọi. Nếu thấy chúng có ơn thiên triệu, họ hãy thận trọng nuôi dưỡng ơn thiên triệu đó[7]“.

Trong phạm vi gia đình, cha mẹ có trách nhiệm thánh hoá con cái, và đáp lại chính con cái cũng góp phần thánh hoá cha mẹ. Trong phạm vi giáo xứ, các chủ chăn có trách nhiệm thánh hoá giáo dân, và đáp lại chính giáo dân cũng góp phần thánh hoá các chủ chăn (Ga 17,19). Giáo dân có thể thực hiện công việc này bằng cách:

– Tích cực cộng tác với các chủ chăn trong việc xây dựng Hội Thánh, cách riêng trong các sáng kiến truyền giáo.

– Cảm thông những giới hạn và yếu đuối của các ngài.

– Cầu nguyện cho các ngài.

– Nâng đỡ các ngài về tinh thần và vật chất.

– Khiêm tốn góp ý xây dựng cho các ngài trong tình bác ái và liên đới trách nhiệm.

6. Hôn phối và Xức dầu bệnh nhân

Trong ngày cưới, đôi bạn hứa chung thủy với nhau cho đến chết. Cái chết niêm ấn lòng trung tín trọn vẹn của họ. Trước biên giới sự sống và sự chết, bí tích Xức dầu giúp người tín hữu kết thúc đoạn đường lữ hành và sẵn sàng bước vào cuộc sống vĩnh cửu. Thánh Thể lúc ấy là của ăn đàng giúp người tín hữu đủ sức đi tới Bàn Tiệc muôn đời của giao ước tình yêu giữa Đức Kitô và Hội Thánh khải hoàn. Trên giường hấp hối, đôi bạn thấu triệt được vẻ cao đẹp cuộc sống chung đầy ý nghĩa của mình. Đó là cuộc đồng hành với Đức Kitô, là thời gian thử thách và tinh luyện tình yêu, là đoạn đường dẫn tới cuộc sống vĩnh cửu mai sau đầy hạnh phúc.

Hãy liệu cho bệnh nhân được lãnh nhận bí tích Xức dầu lúc còn tỉnh táo. Những người thân yêu nên có mặt trong giờ phút ấy để cầu nguyện cho bệnh nhân; để hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân, vì lúc ấy bệnh nhân thường rất sợ cô độc.

Bí tích Xức dầu cũng nhắc nhớ đến sự hiện diện của những người cao niên trong gia đình. Đừng coi sự hiện diện của họ như một gánh nặng, nhưng hãy coi đó là một ơn Chúa: người già là hiện thân của kinh nghiệm quá khứ, có thể giúp giới trẻ nhận ra lẽ khôn ngoan trong cuộc sống. Đồng thời, người già cũng dễ mang tâm trạng cô đơn, sợ bị bỏ rơi. Do đó, cần quan tâm chăm sóc những người già cả trong gia đình mình cũng như trong lối xóm.

 

4 GHI NHỚ :

1. H. Các bí tích giúp ích gì cho đời sống Hôn nhân và gia đình?

T. Các bí tích, đặc biệt là bí tích Hôn phối, Thánh Thể và Hoà giải thánh hoá tình yêu vợ chồng, ban nhiều ơn sủng giúp họ chu toàn trách nhiệm đối với nhau và đối với con cái.

2. H. Ai được quyền cử hành Bí tích Rửa tội?

T. Bình thường là Giám mục, Linh mục và phó tế, nhưng khi khẩn cấp thì bất cứ ai cũng có thể cử hành, miễn là làm theo ý muốn và cách thức của Hội Thánh.

3. H. Trong trường hợp khẩn cấp, phải rửa tội như thế nào?

T. Phải lấy nước lã, là nước tự nhiên, không pha thứ gì vào, như nước sông, nước biển, nước giếng, nước mưa, rồi đổ trên đầu kẻ chịu phép Rửa tội và đọc: (tên thánh) ta rửa con, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.

4. H. Gia đình Kitô hữu sống bí tích Thêm sức như thế nào?

T. Gia đình Kitô hữu sống bí tích Thêm sức bằng cách lo cho mọi người nhiệt thành sống đức tin, để trở nên nhân chứng của Đức Kitô và góp phần xây dựng Hội Thánh.

5. H. Vì sao gia đình Kitô hữu phải năng lãnh nhận Bí tích Hoà giải?

T. Nhờ Bí tích Hoà giải, mọi người nhận ra những lỗi phạm của mình và đón nhận lòng khoan dung của Thiên Chúa, nhờ đó sẽù dễ sống hoà hợp và tha thứ cho nhau.

6. H. Vì sao gia đình Kitô hữu phải năng lãnh nhận Bí tích Thánh Thể?

T. Vì Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch tình yêu và là sức sống nuôi dưỡng, củng cố và đổi mới tình yêu của đời sống hôn nhân và gia đình.

7. H. Cha mẹ có bổn phận nào đối với ơn thiên triệu của con cái?

T. Cha mẹ phải thận trọng giúp đỡ con cái nhận biết ơn gọi. Nếu thấy chúng có ơn thiên triệu thì phải lo nuôi dưỡng ơn thiên triệu ấy.

8. H. Bí tích Xức dầu bệnh nhân có liên hệ nào đối với đời sống hôn nhân và gia đình?

T. Bí tích Xức dầu bệnh nhân nhắc nhở ta quan tâm đến những người đau yếu, bằng cách lo cho họ lãnh nhận bí tích này, để được ơn Chúa nâng đỡ. Đồng thời quan tâm đến những người già cả trong gia đình và lối xóm, bằng cách giúp đỡ và chăm sóc họ, đặc biệt là những người neo đơn.

4 GỢI Ý SUY NGHĨ :

1. Bí tích Hoà giải và bí tích Thánh Thể đem lại cho gia đình anh chị những ơn ích nào?

2. Tương quan giữa bí tích Rửa tội và bí tích Hôn phối?

4 CẦU NGUYỆN :

Lạy Chúa, Chúa đã dùng bí tích Hôn phối liên kết chúng con nên duyên vợ chồng. Xin thương đổ ơn thánh Chúa xuống trên gia đình chúng con, để chúng con trở thành dấu chỉ sự hiện diện của Chúa cho nhau và cho mọi người. Amen.


[1] PV 59

[2] GLHT 1265

[3] GLHT 1624

[4] x. GĐ 58

[5] GĐ 59

[6] ĐTLM 2

[7] TĐ 11

 

 

Bài 16

Cầu nguyện trong gia đình

Hãy dùng những bài thánh vịnh, thánh thi 
và thánh ca do Thần Khí linh hứng mà đối đáp với nhau
 
và ca tụng Chúa hết lòng anh em.
 
Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự,
 
hãy nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta,
 
mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha.
(Ep 5,19-20)

Gia đình Kitô hữu được gọi là Hội Thánh tại gia vì gia đình là nơi đặc biệt diễn tả sự hiệp thông trong Hội Thánh: “Gia đình Kitô giáo bày tỏ và thể hiện một cách đặc biệt sự hiệp thông trong Hội Thánh vì lẽ đó phải được coi là một Hội Thánh tại gia, là một cộng đoàn đức tin, đức cậy và đức mến. Gia đình Kitô giáo là một hiệp thông nhân vị là dấu chỉ và hình ảnh của sự hiệp thông giữa Chúa Cha và Chúa Con trong Chúa Thánh Thần[1]“.

Sự hiệp thông trong gia đình dẫn đến sự gặp gỡ Thiên Chúa, đồng thời việc gặp gỡ Thiên Chúa sẽ nối kết gia đình bền chặt hơn. Trong Tông huấn Gia đình, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II gọi gia đình là “cộng đồng đối thoại với Thiên Chúa”. Gia đình được lôi cuốn vào cuộc đối thoại với Thiên Chúa bằng việc Lắng nghe Lời Chúa, bằng việc cầu nguyện chung cũng như cầu nguyện riêng, bằng việc lãnh nhận các bí tích, đặc biệt là bí tích Thánh Thể và bí tích Hoà giải.

Thư chung của Hội Đồng Giám Mục VN năm 1980 cũng nhắn nhủ: “Anh chị em hãy tin vào ơn Chúa Thánh Thần đã được đổ xuống trong lòng để nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện của anh chị: cầu nguyện riêng, cầu nguyện chung trong gia đình và trong xứ đạo. Và nhất là anh chị em hãy đào sâu đức tin của mình bằng việc học và dạy giáo lý ngay trong gia đình của mình”.

1. Cầu nguyện là gì?

Cầu nguyện chính là cuộc gặp gỡ và đối thoại thân mật với Thiên Chúa. Hình ảnh cuộc gặp gỡ và đối thoại giữa Chúa Giêsu với người phụ nữ Samaria bên bờ giếng Giacop (x. Ga 4,1-20) là một hình ảnh tuyệt vời về cầu nguyện. Chính Chúa Giêsu đang khát và đã tìm đến gặp gỡ, ngỏ lời trước với con người, Ngài đã khơi dậy nơi cõi lòng con người nỗi khát khao sâu thẳm, và giúp con người khám phá ra Ngài là Đấng duy nhất có thể lắp đầy nỗi khao khát đó.

Cầu nguyện là lời đáp trả đức tin và tình yêu của con người trước lời hứa cứu độ của Thiên Chúa. Cầu nguyện còn là sự đặt mình trước sự hiện diện của Thiên Chúa, để đi sâu vào mối hiệp thông với Ba Ngôi. Từ sự xác tín trên, các nhà tu đức đã định nghĩa cầu nguyện như sau:

– Cầu nguyện là nâng hồn lên Chúa hay cầu xin Ngài ban cho những ơn cần thiết [2].

– Cầu nguyện là sự hứng khởi của tâm hồn, là cái nhìn đơn sơ hướng về trời cao, là lời kinh tri ân và yêu mến giữa cơn thử thách cũng như lúc hân hoan [3].

2. Phải cầu nguyện như thế nào?

Chúa Giêsu là mẫu gương tuyệt hảo cầu nguyện, là vị Thầy dạy ta cách cầu nguyện. Ngài thường cầu nguyện nơi vắng vẻ (x. Lc 5,16). Kinh nguyện của Ngài đầy tâm tình gắn bó yêu thương, vâng phục thánh ý Chúa Cha, dù phải chấp nhận Thập Giá (x. Mt 26,39), và tuyệt đối tin tưởng là mình sẽ được nhận lời. Ngài còn kêu gọi các môn đệ tỉnh thức cầu nguyện (x. Lc 22,40) và muốn họ dâng những lời cầu khẩn lên Thiên Chúa nhân danh Ngài (x.Mt 18,19-20). Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ cầu nguyện với một tâm hồn trong sạch, một đức tin sống động và kiên trì, một sự dạn dĩ của người con.

2.1. Kiên trì cầu nguyện

Cầu nguyện kiên trì, không sờn lòng nản chí, chắc chắn sẽ được Thiên Chúa nhận lời. Chẳng hạn như bà goá kêu oan, đòi ông quan toà phân xử; cuối cùng ông cũng phải giải quyết (x. Lc 18,1-8)“Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người, dù Người có trì hoãn?” (18,7). Hay như người kia quấy rầy bạn mình vào lúc đêm khuya vẫn có được tất cả những thứ gì anh ta cần dùng (x. Lc 11,5-8). Chúa Giêsu khẳng định: “Hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ sẽ mở cho” (Lc 11,10). Và Thiên Chúa còn ban cho hơn cả lòng ta mong ước vì Cha trên trời còn rộng lượng hơn cả người cha trần gian; đó là ban chính Thánh Thần của Ngài cho chúng ta (x. Mt 7,7-11; Lc 11,11-13).

2.2. Khiêm tốn cầu nguyện

Khi cầu nguyện, ta phải cầu nguyện bằng tất cả con người của mình: lời nói và cử chỉ, đặc biệt là tấm lòng. Tấm lòng chính là nơi sâu kín của con người, là nơi phát sinh mọi quyết định và gặp gỡ. Khiêm nhường và thống hối là một tâm tình căn bản trong khi cầu nguyện (Tv 130,14), vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải (Rm 8,26). Khiêm nhường là tâm tình phải có để đón nhận được ơn cầu nguyện vì trước mặt Chúa, con người chỉ là kẻ van xin[4].

Cầu nguyện trong sự hạ mình là cách thức dễ đánh động lòng Thiên Chúa nhất. Dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện cho thấy Thiên Chúa không đoái hoài đến những thành tích đáng nể của người Pharisêu chỉ vì ông hay khoe khoang và coi khinh người khác (x. Lc 18,9-14; 7,6-10). Cầu nguyện khiêm tốn để sám hối về những lầm lỗi, và tạ ơn về tất cả những gì mình đã được lãnh nhận, và đó là điều làm đẹp lòng Thiên Chúa nhất (x. Lc 10,21).

Cầu nguyện còn phải đi đôi với nỗ lực hòa giải và lòng yêu thương, kể cả kẻ thù và người bách hại mình; kinh nguyện phải phát xuất từ đáy lòng với tâm hồn thanh khiết và ước mong tìm kiếm Nước Thiên Chúa trên hết mọi sự.

3. Những nguồn mạch của cầu nguyện

Trong đời sống Kitô hữu, có những nguồn mạch, ở đó Đức Kitô đang đợi chờ để ban Thánh Thần cho ta[5]. Sau đây là một số nguồn mạch chính yếu :

3.1. Lời Chúa

Công đồng Vaticanô II đã khuyến khích các Kitô hữu: “Mọi người cũng nên nhớ rằng kinh nguyện phải đi đôi với việc đọc Thánh Kinh, để có sự đối thoại giữa Thiên Chúa và con người, vì “chúng ta ngỏ lời với Ngài khi cầu nguyện, và chúng ta nghe Ngài nói lúc chúng ta đọc các sấm ngôn thần linh”[6].

3.2. Phụng vụ của Hội Thánh

Kinh nguyện tiếp nhận Phụng vụ và đồng hóa với Phụng Vụ trong khi và sau khi được cử hành. Dù con người cầu nguyện nơi kín đáo (Mt 6, 6), lời nguyện của họ vẫn là lời kinh của Hội Thánh, là sự hiệp thông với Ba Ngôi Chí Thánh[7].

3.3. Các nhân đức đối thần

Đức tin giúp ta đón nhận Chúa xuyên qua các dấu chỉ về sự hiện diện thần linh, tìm kiếm và trông mong Thánh Nhan Chúa, lắng nghe và suy niệm lời Ngài.

Đức cậy là thái độ phải có khi cầu nguyện, đồng thời được dưỡng nuôi nhờ cầu nguyện. Vì vậy, Thánh Phaolô đã nguyện xin “Thiên Chúa là nguồn hy vọng, ban cho anh em được chan chứa niềm vui và bình an để nhờ quyền năng Thánh Thần anh em được tràn trề hy vọng” (Rm, 15,13).

Đức mến là suối nguồn của đời cầu nguyện, vì đức mến lôi kéo mọi sự vào trong Tình Yêu Thiên Chúa và làm cho ta có thể yêu mến Ngài như Ngài yêu mến ta. Vì thế, ai để cho đức ái hướng dẫn, người ấy sẽ đi tới đỉnh cao của cầu nguyện.

3.4. Cái “hôm nay”

Khi dạy ta cầu nguyện, Chúa Giêsu cũng dạy về sự quan phòng của Chúa Cha (Mt 6, 11.34). Thời gian là của Chúa Cha, chúng ta gặp được Ngài trong hiện tại, không phải hôm qua hay ngày mai, nhưng chính hôm nay: “Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Chúa! Đừng cứng lòng” (Tv 95, 7-8). Khi ta cầu nguyện khởi đi từ cái hôm nay của đời thường, ảnh hưởng của Nước Chúa thấm vào trong dòng chảy của cuộc đời, và kinh nguyện trở thành men làm cho cả nắm bột cuộc đời dậy lên một sức sống mới.

4. Cầu nguyện trong gia đình

Gia đình Kitô hữu là nơi đầu tiên để học cầu nguyện. Được xây dựng trên bí tích Hôn Phối, gia đình là “Hội Thánh thu nhỏ”, là nơi con cái Thiên Chúa học cách cầu nguyện. Đặc biệt với các trẻ nhỏ, kinh nguyện hằng ngày của gia đình là chứng từ đầu tiên về ký ức sống động của Hội Thánh luôn được Chúa Thánh Thần nâng đỡ[8].

Hội Thánh đề ra cho các tín hữu những dịp cầu nguyện để nuôi dưỡng đời sống nội tâm. Nhịp cầu nguyện hằng ngày là kinh tối và kinh sáng, trước và sau các bữa ăn. Trong đời sống gia đình, ta có thể cầu nguyện chung và cầu nguyện riêng.

4.1. Cầu nguyện chung

Giờ Kinh chung của gia đình chính là giờ “ngồi bên nhau” và “cùng nhau ngồi bên Chúa” là giờ của chân lý, là một khám phá kỳ diệu, là một liều thuốc thần tiên. “Kinh nguyện chung trong gia đình có nội dung độc đáo là chính cuộc sống của gia đình. Qua những tình huống thay đổi của cuộc sống ấy, chính Thiên Chúa đang mời gọi và gia đình tín hữu đáp trả lại với đầy lòng hiếu thảo. “Những chuyện vui buồn, hy vọng và sầu khổ, ngày sinh và ngày cưới, những người đi vắng trở về, những chọn lựa quan trọng và ngay cả cái chết của người thân yêu… tất cả đều là những dấu hiệu về sự hiện diện ưu ái của Thiên Chúa trong cuộc sống gia đình. Những biến cố ấy phải là những dịp để gia đình tạ ơn, khấn nguyện, tin tưởng phó thác vào bàn tay Cha chung trên trời”[9].

Trong gia đình, các thành viên càng cầu nguyện chung với nhau, càng hiệp nhất bền chặt vì cảm nhận được sự hiện diện sống động của Chúa Giêsu : “Thầy bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18,19-20).

Trong tông thư “Kinh Mân Côi”, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nói: “Gia đình cùng nhau cầu nguyện là gia đình cùng nhau chung sống… Những phần tử của mỗi gia đình, khi hướng mắt nhìn lên Chúa Giêsu, cũng lấy lại được khả năng nhìn vào mắt của nhau, khả năng nói chuyện với nhau, khả năng tha thứ cho nhau, và khả năng nhìn thấy giao ước yêu thương của họ được canh tân trong Thần Linh Chúa”[10].

Lợi ích của giờ kinh chung: Giờ kinh chung của gia đình là cơ hội để mọi người thánh hoá sinh hoạt hằng ngày:

– Tạ ơn vì các hồng ân lãnh nhận trong ngày.

– Dâng niềm vui, nỗi buồn, dâng mồ hôi nước mắt, những thành công, thất bại trong ngày như hy tế để xin Chúa đón nhận, thanh tẩy, đỡ nâng và chúc lành.

– Là cơ hội để vun xới tình gia đình: hiệp thông với những người thân yêu đã khuất, những người vắng mặt; cầu nguyện cho những nhu cầu của nhau; xin lỗi và tha thứ cho nhau, thông cảm, giúp nhau mỗi ngày một hoàn thiện hơn.

– Và cũng là cơ hội thuận tiện để cha mẹ dạy dỗ, hướng dẫn con cái về mặt nhân bản cũng như về mặt đức tin. Việc giáo dục của cha mẹ không chỉ bằng lời nói mà còn bằng chính gương sống.

Tại Việt Nam, cầu nguyện chung trong gia đình qua các giờ kinh tối và kinh sáng là một truyền thống đạo đức rất tốt đẹp đã ăn rễ sâu trong các gia đình Công giáo. Tuy nhiên, truyền thống này đang bị mai một dần do ảnh hưởng của nếp sống đô thị hoá hiện nay. Để vượt qua những cản trở cho việc cầu nguyện chung trong gia đình, vào buổi tối, cần thu xếp giờ kinh thật sớm để tiện cho mọi người, nhất là trẻ em có thể tỉnh táo. Nếu không được, cần hướng dẫn cho trẻ em cầu nguyện trước. Khi cầu nguyện nguyện chung, cần tạo bầu khí trang nghiêm và ấm cúng, thực sự gặp gỡ và đối thoại với Chúa.

Bàn thờ của gia đình: Để giúp mọi người nhớ tới sự hiện diện của Thiên Chúa trong gia đình, mỗi nhà nên có một bàn thờ nhỏ. Bàn thờ cần sáng sủa, trình bày đơn giản để diễn tả đức tin thật chính xác. Cách chung, đừng để quá nhiều ảnh tượng trên bàn thờ, nên dùng một Thánh giá khá lớn, một bên để một tượng Chúa hay ảnh Đức Mẹ, một bên để cuốn Kinh Thánh. Thay vì cuốn Kinh Thánh, cũng có thể treo một hai tấm liễn ghi Lời Chúa. Bàn thờ cần giữ sạch sẽ, không để những đồ đạc lặt vặt. Bàn thờ tổ tiên có thể đặt bên dưới bàn thờ Chúa, nhưng cần có sự phân biệt rõ ràng và trang trí đơn giản.

4.2. Cầu nguyện riêng

Thiên Chúa hiện diện giữa gia đình khi cả nhà cầu kinh chung và cũng hiện diện cách thâm sâu trong tâm hồn mỗi người vì chính nơi đó, Ngài chờ đợi mỗi người trở về gặp gỡ Ngài thật sâu xa. Bởi đó, cầu nguyện chung và cầu nguyện riêng cần đi đôi với nhau. Nhờ cầu nguyện chung, người ta sẽ quen cầu nguyện riêng; đồng thời mỗi người càng cầu nguyện riêng, thì giờ kinh chung sẽ càng tốt đẹp. Mỗi người trong gia đình, đặc biệt các bậc cha mẹ, cần dạy cho con cái sống tinh thần cầu nguyện bằng cách:

– Mỗi sáng vừa thức dậy nhớ dâng ngày cho Chúa và xin Chúa Thánh Thần dạy cho biết sống cả ngày trong sự kết hiệp với Chúa.

– Tập luôn luôn “thấy Chúa đang nhìn ta”, dù ở đâu, làm gì, cũng sống trong cái nhìn yêu thương của Chúa.

– Cũng có thể dùng những lời cầu nguyện tắt lặp đi lặp lại nhiều lần trong ngày, như: “Lạy Chúa Giêsu, con yêu mến Chúa”…

– Khi đã lên giường, sắp sửa ngủ, nên ôn lại những điều đã cảm nhận trong đoạn Lời Chúa vừa đọc trong giờ kinh tối, để tiếp tục suy niệm vào sáng hôm sau.

Ngoài ra, mỗi người cần có những giờ phút dành riêng để cầu nguyện, nhất là tâm nguyện hay nguyện ngắm.

Khi nguyện ngắm, nếu ở trong nhà thờ, ta nên chăm chú nhìn lên Chúa Giêsu Thánh Thể trong nhà tạm. Ở những nơi khác, ta có thể nhìn lên tượng Chúa hoặc hướng về Chúa đang ngự trong lòng. Để dễ tập trung, nên ngồi theo một tư thế thật yên vững, giữ cho cột sống và đỉnh đầu thẳng góc với mặt đất, rồi tha thiết xin ơn Chúa Thánh Thần, gạt bỏ hết mọi âu lo và dự tính để chú tâm vào sự hiện diện của Thiên Chúa và đối thoại với Ngài. Hãy bắt đầu thật nghiêm túc và nghiêm túc cho bằng được, rồi kiên nhẫn cho đến hết giờ quy định. Dần dần, Chúa Thánh Thần sẽ đưa ta tiến sâu vào một kinh nghiệm cầu nguyện sâu xa và thấm thía.

5. Nội dung một giờ kinh trong gia đình

Mỗi giờ kinh thường gồm các yếu tố: Lời Chúa, lời ca, lời kinh, lời cầu và sự thinh lặng.

Lời Chúa giữ vai trò quan trọng: đó là lương thực thiêng liêng, là chuẩn mực hướng dẫn đời sống người tín hữu và là phương tiện thông thường Chúa dùng để giúp ta được biến đổi. Bởi vậy, trong mỗi giờ kinh, nên đọc một đoạn Lời Chúa trích từ Kinh Thánh để suy niệm. Nên đọc theo một chương trình. Chẳng hạn đọc một trong các đoạn Kinh Thánh của thánh lễ hôm sau, như được ghi trong lịch Công giáo, hoặc đọc toàn bộ Kinh Thánh trong 3 năm, tuần tự mỗi tối một đoạn.

Sự thinh lặng để xét mình và suy niệm làm cho Lời Chúa thấm vào lòng ta. Nhờ đó, tự đáy lòng, ta có thể nói lên những lời nguyện tự phát để ca tụng, ngợi khen Chúa, để bày tỏ tâm tình thống hối, mến yêu, hay để cầu xin cho những người quen biết và cho những nhu cầu của Hội Thánh và loài người.

Lời kinh: Nên duy trì những kinh cần thiết làm nền cho giờ cầu nguyện: Kinh Truyền tin, kinh Chúa Thánh Thần, Kinh Tin, Cậy, Mến, Ăn năn tội, Lạy Cha, Kính Mừng, Sáng Danh, Lạy Nữ Vương, Cám Ơn, Trông Cậy, kinh Vực sâu. Trước giờ kinh, nên dành một phút xem thử sẽ dùng những kinh nào, chứ đừng vừa cầu nguyện vừa chọn kinh.

Mỗi giờ kinh nên có một chục kinh Mân Côi đọc chung. Thỉnh thoảng cả gia đình nên lần chung trọn chuỗi. Khi đó, nên bỏ bớt một số kinh khác. Còn phần Lời Chúa, nếu chọn theo các mầu nhiệm Mân Côi, chỉ cần đọc một vài câu ngắn.(xem phần phụ lục)

Điều cần thiết khi cầu nguyện là phải nhớ rằng Chúa đang hiện diện. Ta ở đó để nghe Ngài nói và nói với Ngài. Muốn dễ nhớ sự hiện diện của Chúa, khi cầu nguyện nên ăn mặc nghiêm chỉnh, thu dọn đồ đạc trong phòng và trên bàn cho ngăn nắp.

*    *    *

Để kết thúc, chúng ta cùng nhau nghe lại lời kêu gọi của Đức Thánh Cha Phaolô VI đã ngỏ với các bậc làm cha làm mẹ. Những lời này đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trân trọng nhắc lại trong Tông huấn Gia đình: “Hỡi các bà mẹ, chị em có dạy cho các con nhỏ của mình những lời kinh của người Kitô hữu không? Chị em có cộng tác với các linh mục để chuẩn bị cho chúng lãnh nhận các bí tích xưng tội, rước lễ, thêm sức hay không? Nếu chúng đau ốm, chị em có tập cho chúng quen nghĩ tới những sự đau khổ của Đức Kitô, quen cầu xin Đức Mẹ Đồng Trinh và các thánh giúp đỡ hay không? Còn anh em, hỡi những người cha, anh em có biết cầu nguyện chung với con cái, với cộng đồng gia đình, ít là thỉnh thoảng không? Gương sống của anh em qua sự ngay thẳng trong tư tưởng và hành động, được hỗ trợ bằng kinh nguyện chung, quả là một bài học sống, một hành vi thờ phượng đáng tuyên dương. Như thế, anh em đang đem bình an vào trong tổ ấm gia đình anh em: “Bình an cho nhà này”. Đừng quên rằng làm như thế là anh em đang xây dựng Hội thánh[11]“.

4 GHI NHỚ :

1. H. Cầu nguyện là gì?

T. Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên cùng Chúa, để thờ laỵ, cảm tạ, xin Ngài tha thứ mọi tội lỗi và ban cho ta các ơn lành hồn xác.

2. H. Tại sao ta phải cầu nguyện?

T. Ta phải cầu nguyện vì Chúa Giêsu đã truyền dạy, hơn nữa, đời sống thiêng liêng cần được nuôi dưỡng và phát triển bằng sự cầu nguyện.

3. H. Có mấy hình thức cầu nguyện trong gia đình?

T. Có hai hình thức :

– Một là cầu nguyện chung.

– Hai là cầu nguyện riêng.

4. H. Ta phải có tâm tình nào khi cầu nguyện?

T. Khi cầu nguyện ta phải có tâm tình khiêm nhường và thống hối.

5. H. Vì sao việc cầu nguyện chung trong gia đình là quan trọng?

T. Việc cầu nguyện trong gia đình là quan trọng, vì nó giúp ta kết hiệp với Chúa và với nhau, tạo cho gia đình một bầu khí yêu thương và thánh thiện, giúp chuẩn bị việc cử hành phụng vụ ở nhà thờ và kéo dài phụng vụ ấy ngay trong gia đình.

6. H. Việc cầu nguyện chung và cầu nguyện riêng liên quan với nhau thế nào?

T. Việc cầu nguyện chung và cầu nguyện riêng nâng đỡ và bổ túc cho nhau. Nhờ cầu nguyện chung, ta sẽ quen cầu nguyện riêng, đồng thời nếu mọi người trong gia đình năng cầu nguyện riêng, thì giờ kinh chung sẽ càng tốt đẹp.

7. H. Mỗi giờ kinh chung trong gia đình thường gồm mấy yếu tố?

T. Mỗi giờ kinh chung trong gia đình thường gồm năm yếu tố này :

– Một là Lời Chúa

– Hai là lời ca.

– Ba là lời kinh.

– Bốn là lời cầu.

– Năm là sự thinh lặng.

4 GỢI Ý SUY NGHĨ :

1. Mẹ Têrêsa Calcuttta nói: “Gia đình nào cầu nguyện chung với nhau, gia đình đó sẽ bền vững”. Anh chị nghĩ thế nào về câu nói trên?

2. Theo anh chị, nên tổ chức giờ kinh tối trong gia đình như thế nào?

3. Lên chương trình một giờ kinh tối cho gia đình dài khoảng 15-20 phút. Trao đổi với những người khác.

 

4 CẦU NGUYỆN :

Lạy Thiên Chúa toàn năng, chúng con cảm tạ Chúa đã yêu thương dựng nên chúng con để chúng con được sống hạnh phúc bên Chúa mãi mãi. Xin cho gia đình chúng con biết quý trọng những giờ phút quây quần bên Chúa. Xin Chúa liên kết chúng con nên một trong tình yêu, ngõ hầu mai sau gia đình chúng con sẽ được đoàn tụ bên Chúa mãi mãi trên Nước Trời. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen


[1] GLHT 2204-2205

[2] T. Gioan Damascênô, Đức tin chính thống.

[3] T. Têrêsa Hài Đồng, tự truyện.

[4] T. Augustinô, Bài giảng 56,6,9; x. Lc 18, 9-14

[5] GLHT 2652

[6] MK 5

[7] GLHT 2655

[8] GLHT 2685.

[9] GĐ 59

[10] Tông thư Kinh Mân Côi, 41

[11] GĐ 60

 

 

Bài 17

Sinh con có trách nhiệm

“Hiền thê bạn trong cửa trong nhà,
khác nào cây nho đầy hoa trái;
và bầy con tựa những cây ô-liu mơn mởn,
 xúm xít tại bàn ăn.
 Đó chính là phúc lộc Chúa dành cho kẻ kính sợ Người” 
(Tv 128, 3-4).

Sách Sáng thế kể: Hai chị em Lêa và Rakhen cùng lấy một chồng là Giacop. Khi thấy chị Lêa sinh được bốn đứa con, còn mình thì mãi không sinh nở, Rakhen đã phát ghen và nói với Giacop: “Hãy cho tôi được có con, không thì tôi chết mất” (St 30,1). Một đứa con sinh ra trong sự mong đợi quả là niềm hạnh phúc lớn lao cho đôi vợ chồng. Tuy nhiên bên cạnh niềm vui cũng có nhiều nỗi lo. Chẳng hạn đối với hai vợ chồng : phải làm sao có đủ khả năng để chăm sóc cho con cái. Đối với xã hội, dân số gia tăng có nghĩa là phải làm sao có thêm lương thực, thêm trường học, thêm bệnh viện, thêm việc làm… Chính vì thế, càng ngày người ta càng ý thức hơn vấn đề sinh con có trách nhiệm. Đây cũng là vấn đề quan trọng mà các anh chị đang chuẩn bị bước vào đời sống hôn nhân cũng như các đôi vợ chồng cần quan tâm suy nghĩ.

1. Con cái là ân huệ cao quý nhất của hôn nhân

“Truyền sinh là một ân huệ, một mục tiêu của hôn nhân, vì tình yêu vợ chồng tự nhiên hướng về việc sinh sản con cái. Con cái là hoa quả và thành tựu của tình yêu vợ chồng, hiện diện ngay trong việc vợ chồng hiến thân cho nhau, chứ không phải một cái gì từ bên ngoài được ghép vào. Vì thế Hội Thánh “bảo vệ sự sống[1]“ và dạy rằng “mọi hành vi ân ái phải tự nó mở ngỏ cho việc truyền sinh[2]“. “Giáo lý này đã được Huấn Quyền trình bày nhiều lần, nền tảng của giáo lý này là sự liên kết bất khả phân ly giữa hai ý nghĩa của hành vi ân ái: kết hợp và truyền sinh. Đây là điều chính Thiên Chúa đã muốn và con người không được tách rời[3]“.

2. Cần phải sinh con một cách có trách nhiệm

Nhiệm vụ sinh sản và giáo dục con cái là sứ mạng riêng biệt của vợ chồng. Trong khi thực hiện nhiệm vụ ấy, họ biết rằng mình cộng tác vào công trình sáng tạo của Đấng Tạo Hóa và trở thành những kẻ diễn đạt tình yêu của Ngài. Bởi vậy, họ sẽ chu toàn bổn phận của mình với trách nhiệm của một con người và của một Kitô hữu[4].

Hội Thánh cũng nhấn mạnh rằng chính lương tâm trong sáng của đôi bạn là mực thước chỉ dạy họ quyết định về số con của mình[5]. Nhờ vâng phục Thiên Chúa và đồng tâm hiệp lực với nhau, hai vợ chồng sẽ tạo được cho mình một phán đoán ngay thẳng:

– biết xét đến lợi ích riêng của mình cũng như của con cái đã sinh ra hoặc sẽ sinh ra,

– biết nhận định về các hoàn cảnh vật chất và tinh thần,

– biết nghĩ đến lợi ích của gia đình, xã hội và Hội Thánh.

Sự phán đoán ấy, chính đôi vợ chồng phải suy nghĩ trước mặt Thiên Chúa.

Khi hành động, các vợ chồng Kitô hữu luôn ý thức mình không thể làm theo sở thích, nhưng phải tuân theo tiếng nói của một lương tâm được khuôn đúc theo luật Chúa và giáo huấn của Hội Thánh.

3. Những tiêu chuẩn để quyết định điều hòa sinh sản

Sinh sản có trách nhiệm là suy nghĩ kỹ lưỡng và phán đoán chín chắn trước khi quyết định sinh con. Đôi vợ chồng cần suy nghĩ và phán đoán dựa vào các tiêu chuẩn thực tế sau đây:

3.1. Vì lợi ích của chính vợ chồng

Mỗi đứa con chào đời phải củng cố thêm tình yêu và hạnh phúc của vợ chồng, vì đứa con là kết quả của tình yêu tự hiến của họ. Trước khi quyết định sinh con, vợ chồng phải lưu ý đến những yếu tố giúp mang lại hoặc ảnh hưởng đến hạnh phúc của họ, chẳng hạn sức khỏe của người mẹ, tâm lý, ước vọng tương lai…

3.2. Vì lợi ích của con cái

Con cái là ân huệ tốt đẹp nhất của hôn nhân. Sinh một đứa con là tự ý chấp nhận tạo mọi điều kiện để nó có thể sống hạnh phúc, sống xứng đáng với ơn gọi làm người và làm con Thiên Chúa. Do đó, đôi bạn cần lưu ý đến khả năng tài chính, nơi ăn chốn ở, những phương cách giáo dục… và tính toán xem nếu sinh thêm một đứa con, liệu mình có thể nuôi dưỡng và giáo dục nó được chu đáo không.

3.3. Vì lợi ích của xã hội và Hội Thánh

Xã hội phát triển là nhờ những phần tử khoẻ mạnh, siêng năng làm việc và có những đức tính cần thiết. Cũng vậy, Hội Thánh chỉ thực sự phát triển khi con cái của mình không những kiên vững về đức tin mà còn trưởng thành về nhân bản nữa. Do đó, sự lượng định về khả năng nuôi dạy và giáo dục con cái trở thành những phần tử hữu ích cho xã hội và Hội Thánh cũng là một tiêu chuẩn mà đôi bạn cần lưu ý khi quyết định về việc điều hòa sinh sản.

4. Vấn đề ngừa thai

Do tình trạng tài nguyên trên thế giới phân phối không đều, ngày nay những nước nghèo không đủ sống, trong khi những nước giàu quá thừa thãi. Cũng vì thế, đang khi nhiều nước giàu khuyến khích các gia đình có thêm con cái, thì các nước nghèo bị áp lực phải tìm cách hạn chế dân số. Nhiều gia đình tự thấy chỉ nên sinh con trong khả năng mình có thể nuôi dạy chúng nên người.

Trong việc kế hoạch hóa gia đình, người Công giáo không được phép sử dụng cách ngừa thai nhân tạo mà chỉ được sử dụng cách ngừa thai tự nhiên, khi có lý do chính đáng theo những tiêu chuẩn của Hội Thánh.

“Một khía cạnh đặc biệt của trách nhiệm đó là điều hòa truyền sinh. Khi có lý do chính đáng, đôi vợ chồng có quyền kéo dài khoảng cách giữa các lần sinh nở. Chính họ phải chứng thực rằng ước muốn đó không do ích kỷ, nhưng xứng hợp với lòng quảng đại chính đáng của bậc làm cha mẹ có trách nhiệm. Ngoài ra, họ phải xử sự theo những tiêu chuẩn khách quan của luân lý:

“Khi cần hòa hợp tình yêu vợ chồng với việc sinh sản con cái có trách nhiệm, phải ý thức rằng giá trị luân lý của hành động không chỉ lệ thuộc vào ý muốn thành thực và việc cân nhắc các lý do, nhưng phải được thẩm định theo những tiêu chuẩn khách quan suy diễn từ bản tính nhân vị và của hành động nơi nhân vị: những tiêu chuẩn ấy tôn trọng ý nghĩa trọn vẹn của sự trao hiến và sinh sản con cái trong khung cảnh tình yêu đích thực. Đó là điều không thể thực hiện được nếu không thực tâm vun trồng đức khiết tịnh trong bậc vợ chồng”[6].

 

4.1. Cách thức ngừa thai nhân tạo

Ngừa thai nhân tạo là trực tiếp làm cho khả năng sinh sản vô hiệu hoặc làm cho diễn tiến truyền sinh bị ngăn chặn hay không thể đạt kết quả.

Cách thức ngừa thai nhân tạo áp dụng cho nam giới gồm những phương pháp: thắt ống dẫn tinh, bao cao su, xuất tinh ngoài âm đạo, thuốc diệt tinh trùng…

Cách thức ngừa thai nhân tạo áp dụng cho nữ giới gồm những phương pháp : thắt ống dẫn trứng, thuốc tránh thai (uống, tiêm hoặc cấy dưới da), dụng cụ như vòng xoắn, màng ngăn…

Hội Thánh cấm dùng các phương pháp ngừa thai này, vì chúng chẳng những ngăn cản vợ chồng cộng tác vào công cuộc trao ban sự sống mà còn làm sai lạc sự thật căn bản của tình yêu vợ chồng là hiến thân trọn vẹn cho nhau.

“Cấm việc hút điều hoà kinh nguyệt, vì là hình thức phá thai non. Cấm những hành động trực tiếp ngăn cản việc thụ thai tạm thời hay vĩnh viễn. Cấm sử dụng các dụng cụ, các loại thuốc ngừa thai[7].

4.2. Cách thức ngừa thai tự nhiên

Ngừa thai tự nhiên là tiết dục định kỳ, vợ chồng kiêng giao hợp trong thời kỳ người vợ dễ dàng thụ thai.

Nếu có lý do chính đáng, vợ chồng có thể sử dụng cách thức ngừa thai tự nhiên này, vì nó không đối nghịch với bản chất và mục đích của hành vi yêu thương thân mật ; không trực tiếp ngăn cản việc trứng thụ tinh hay giết chết bào thai[8].

Sau đây là hai phương pháp giúp xác định ngày trứng rụng, cũng như xác định trong chu kỳ kinh nguyệt của người phụ nữ những ngày nào có thể thụ thai và những ngày nào không thể thụ thai.

– Phương pháp Ogino-Knauss

Phương pháp này do hai bác sĩ Ogino người Nhật và Knauss người Áo cùng tìm ra vào các năm 1925-1930. Nó dựa trên chu kỳ kinh nguyệt để xác định ngày rụng trứng. Trứng thường rụng vào ngày thứ 14 trước khi có kinh lần sau. Thỉnh thoảng trứng cũng có thể rụng vào ngày thứ 12 hoặc ngày thứ 16.

Phương pháp này còn dựa vào thời gian hoạt động của trứng và tinh trùng. Sau khi vào âm đạo, tinh trùng có thể sống khoảng 72 giờ. Còn trứng, sau khi rụng, có thể sống khoảng 24 giờ.

Căn cứ vào những yếu tố trên, người ta có thể xác định được trong một chu kỳ kinh nguyệt khoảng thời gian nào là có thể thụ thai và khoảng thời gian nào là không thể thụ thai. Nếu chưa muốn có thai thì kiêng giao hợp trong khoảng thời gian có thể thụ thai.

– Phương pháp quan sát chất nhờn

Phương pháp này do cặp vợ chồng người Úc John và Evelyn Billings tìm ra, nên còn gọi là phương pháp Billings.

Nơi người phụ nữ, việc tiết chất nhờn ở cổ tử cung và âm đạo thường theo một quy trình nhất định. Sau những ngày kinh nguyệt, âm đạo thường khô ráo. Trước khi trứng rụng vài ngày, chất nhờn bắt đầu tiết ra, lúc đầu ít, đục, dẻo; sau đó nhiều, trong, trơn ướt, nhớt, có thể kéo sợi được, giống như lòng trắng trứng gà. Đây chính là ngày trứng rụng. Sau đó chất nhờn trở lại đục, dẻo và ít trong vài ngày, trước khi người phụ nữ lại cảm thấy khô ráo ở âm đạo cho đến kỳ kinh lần sau.

Nếu chưa muốn có thai, vợ chồng cần kiêng giao hợp trong những ngày có chất nhờn ở âm đạo, nhất là trong ngày chất nhờn có nhiều.

Trong thực tế, để tăng cường hiệu quả, người ta thường phối hợp cả hai phương pháp. Thật ra, không có phương pháp nào mà không có bất tiện và không đòi hy sinh, cố gắng. Ai tin vào Đức Kitô đều được mời gọi sống khiết tịnh tùy theo bậc sống của mình. Vả lại, mọi người đều phải ý thức rằng sự sống con người và trách nhiệm lưu truyền sự sống không chỉ giới hạn ở đời này, cũng như không thể hiểu và đo lường được trọn vẹn ý nghĩa ngay từ bây giờ, nhưng luôn quy chiếu về định mệnh vĩnh cửu của con người.

Những phương pháp trên đây vẫn chưa phải là đơn giản. Chúng ta cần hưởng ứng lời mời gọi của Đức Thánh Cha để cầu xin Chúa cho các nhà khoa học có thể tìm ra những phương thức giản tiện hơn nữa, nhờ đó các đôi bạn có thể được dễ dàng hơn.

5. Vấn đề phá thai

Sự sống con người phải được tuyệt đối tôn trọng và bảo vệ từ lúc được thụ thai. Ngay khi bắt đầu hiện hữu, con người phải được kẻ khác nhìn nhận các quyền làm người, trong đó có quyền được sống là quyền bất khả xâm phạm của mọi người vô tội[9].

Ngay từ thế kỷ thứ nhất, Hội Thánh đã xác định phá thai là một tội ác. Giáo huấn ấy bất biến, không hề thay đổi. Trực tiếp phá thai dù là mục đích hay phương tiện, đều vi phạm nghiêm trọng luật luân lý[10].

Cộng tác vào chính việc phá thai là một lỗi nặng. Theo giáo luật, Hội Thánh ra vạ tuyệt thông cho kẻ phạm tội này[11]. Làm như thế Hội Thánh không có ý giới hạn lòng thương xót của Thiên Chúa, nhưng muốn nhấn mạnh tính cách nghiêm trọng của tội ác đã phạm, sự thiệt hại không thể sửa chữa được đã gây ra cho đứa trẻ vô tội bị giết chết, cho cha mẹ của em và cho toàn xã hội[12].

6. Những đôi vợ chồng vô sinh

Thánh Kinh luôn coi những gia đình đông con là một dấu chỉ phúc lành của Thiên Chúa (x. Tv 128,3-4)

Thật đau khổ cho những đôi vợ chồng không con. “Ông Abraham thưa: Lạy Đức Chúa, Chúa sẽ ban cho con cái gì? Con ra đi mà không con cái” (St 15,2). Rakhen nói với chồng: “Hãy cho tôi được có con, không thì tôi chết mất” (St 30,1).

Quả thực, những đôi bạn ở trong hoàn cảnh vô sinh mới thấm thía sâu xa rằng “Con cái là ơn huệ cao quý nhất của hôn nhân và là niềm hạnh phúc lớn lao của cha mẹ[13].” Bởi vậy, thật hạnh phúc khi có thể nhờ những tiến bộ khoa học để chữa trị chứng vô sinh.

Tuy nhiên, những kỹ thuật phá vỡ liên hệ phụ mẫu qua sự can thiệp của một người thứ ba (cho tinh dịch hoặc trứng, cho mượn tử cung) là những hành vi phải bị loại bỏ. Những kỹ thuật này (thụ tinh nhân tạo và thụ thai nhân tạo khác nguồn) vi phạm quyền của đứa trẻ phải được sinh ra do cha mẹ đã chính thức kết hôn và quyền được biết cha mẹ là ai. Những kỹ thuật này vi phạm “độc quyền làm cha làm mẹ của đôi vợ chồng”[14].

Về mặt luân lý, những kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và thụ thai nhân tạo vẫn không thể được chấp nhận, vì tách rời hành vi tính dục với việc truyền sinh. Sinh sản con cái không còn là một hành vi của hai con người hiến thân cho nhau, nhưng “sự sống và căn tính của phôi thai bị trao vào tay các bác sĩ và các nhà sinh học, và để kỹ thuật thống trị trên nguồn gốc và vận mệnh của con người. Một mối quan hệ thống trị như thế tự bản chất đi ngược với phẩm giá và sự bình đẳng chung của cả cha mẹ lẫn con cái[15]“. Để cho việc truyền sinh xứng với phẩm giá con người, chúng ta phải tôn trọng mối dây liên hệ giữa những ý nghĩa của hành vi ân ái và sự tôn trọng tính thống nhất của bản tính con người[16].

Đôi vợ chồng nào, sau khi đã tận dụng mọi trợ giúp chính đáng của y khoa, vẫn phải chịu nỗi đau khổ vô sinh, được mời gọi liên kết với Thập Giá của Chúa là nguồn mạch mọi phong phú thiêng liêng. Họ có thể sống quảng đại bằng cách nhận nuôi những đứa trẻ bị bỏ rơi, hoặc tham gia những công tác phục vụ tha nhân[17].

* * *

Trong tâm tình biết ơn tình mẹ của Hội Thánh, chúng ta cùng nhau nghe lại lời Đức Thánh Cha Phaolô VI trong số 25 của thông điệp Sự Sống Con Người:“Giờ đây cha xin ngỏ lời riêng với các con cái nam nữ của cha mà đa số được Thiên Chúa mời gọi phụng sự Ngài trong bậc hôn nhân. Đang khi nêu rõ cho các con những điều không thể vi phạm mà luật Chúa đã quy định, Hội Thánh cũng loan báo ơn cứu độ cho các con, và qua các bí tích, Hội Thánh vẫn luôn mở rộng cho các con nguồn ơn thánh, giúp các con trở thành những thụ tạo mới, vừa biết lấy tình mến và tự do mà đáp lại ý định của Thiên Chúa Tạo Hoá và là Đấng Cứu Độ, vừa nghiệm ra rằng ách của Đức Kitô luôn êm ái dịu dàng (Mt 11,30).

Ước gì trong trách nhiệm vợ chồng Kitô hữu, các con biết khiêm nhường vâng phục Hội Thánh và ý thức rõ rằng các con đang được gọi sống đời Kitô hữu, một ơn gọi đã bắt nguồn từ bí tích Rửa Tội và nay được củng cố và làm sáng tỏ hơn trong bí tích Hôn phối. Nhờ bí tích này, các con được thêm sức mạnh và được thánh hiến để trung thành chu toàn các bổn phận bậc mình. Vì thế ước gì các con ý thức trọn vẹn ơn gọi của các con và làm chứng cho Đức Kitô trước mặt thế gian. Thật vậy, Chúa đã giao cho các con trách nhiệm làm cho mọi người thấy được sự thánh thiện và niềm vui của luật Chúa, luật dạy chúng con vừa yêu thương nhau vừa biết cộng tác với tình yêu của Thiên Chúa là tác giả của sự sống con người.

Cha không hề muốn làm ngơ trước những khó khăn rất lớn đang vây phủ đời sống các đôi bạn Kitô hữu. Thế nhưng chúng ta quá biết rằng chỉ có cửa hẹp và đường chật mới dẫn đến sự sống (Mt 7,14). Chính niềm hy vọng hướng tới sự sống ấy sẽ như đuốc rực rỡ chiếu sáng bước đường chúng con đi, để chúng con có được một tinh thần quả cảm, luôn cố gắng “sống tiết độ, công minh và đạo đức ở đời này” (Tt 2,12), vì biết chắc rằng “bộ mặt thế gian này đang qua đi” (1Cr 7,31).

4 GHI NHỚ :

1. H. Sinh sản có trách nhiệm nghĩa là gì?

T. Sinh sản có trách nhiệm nghĩa là khi sinh con, cha mẹ phải lo nuôi dưỡng, giáo dục, để chúng nên người. Bởi vậy vợ chồng cần suy xét cẩn thận để có quyết định đúng đắn và phù hợp trong việc sinh con.

2. H. Vì sao cần phải sinh sản có trách nhiệm?

T. Vì sinh sản có trách nhiệm, vừa thi hành đúng ý định của Thiên Chúa, vừa đáp ứng đòi hỏi của tình yêu vợ chồng, để đem lại lợi ích cho gia đình, xã hội và Hội Thánh.

3. H. Để sinh sản có trách nhiệm, vợ chồng Kitô hữu phải có thái độ nào?

T. Vợ chồng Kitô hữu phải có những thái độ sau đây :

– Một là phải biết làm chủ bản năng tính dục.

– Hai là phải biết tôn trọng lẫn nhau.

– Ba là phải biết rõ hoàn cảnh cụ thể của mình để cùng nhau quyết định sinh con hay tạm ngừng.

– Bốn là phải dùng cách thức tự nhiên.

– Năm là phải biết tin tưởng vào Chúa để sẵn sàng đón nhận những đứa con ngoài ý muốn.

4. H. Cách thức ngừa thai tự nhiên là gì?

T. Cách thức ngừa thai tự nhiên là tiết dục định kỳ, vợ chồng kiêng cữ trong thời kỳ người vợ dễ dàng thụ thai. Khi có lý do chính đáng, vợ chồng được quyền sử dụng cách thức này.

5. H. Có những phương pháp nào giúp xác định được ngày trứng rụng?

T. Có hai phương pháp này :

– Một là dựa vào chu kỳ kinh nguyệt, được gọi là phương pháp Ogino.

– Hai là dựa vào hiện tượng chất nhờn, được gọi là phương pháp Billings.

6. H. Cách thức ngừa thai nhân tạo là gì?

T. Cách thức ngừa thai nhân tạo là trực tiếp làm cho khả năng sinh sản ra vô hiệu hoặc làm cho diễn tiến truyền sinh bị ngăn chặn hay không thể đạt kết quả. Người Công giáo không được sử dụng cách thức này.

7. H. Để thực hiện cách thức ngừa thai nhân tạo người ta thường dùng những phương pháp nào?

T. Đối với nam giới gồm có: thắt ống dẫn tinh, dùng bao cao su, xuất tinh ra ngoài, dùng thuốc diệt tinh trùng. Đối với nữ giới gồm có: thắt ống dẫn trứng, thuốc tránh thai (uống, tiêm hoặc cấy dưới da), dụng cụ như vòng xoắn, màng ngăn.

8. H. Phá thai có tội hay không?

T. Phá thai là tội rất nặng vì đây là tội giết người.

4 GỢI Ý SUY NGHĨ :

1. Theo anh chị, ngày nay sự sống con người đang được tôn trọng hay đang bị đe dọa?

2. Anh chị nghĩ gì về quan niệm của người bình dân Việt Nam: “Trời sinh voi, trời sinh cỏ”?

3. Theo anh chị, việc tự nguyện tiết dục định kỳ trong đời sống hôn nhân sẽ giúp làm thăng tiến hay sẽ gây phương hại cho tình yêu vợ chồng?

4 CẦU NGUYỆN :

Lạy Mẹ Maria, bình minh của thế giới mới, Mẹ của mỗi người chúng con,

chúng con giao phó cho Mẹ vấn đề sự sống.

Ôi lạy Mẹ, xin hãy nhìn xem hằng hà sa số trẻ em mà người ta không cho ra đời,

những người nghèo với cuộc sống gian khổ,

những người già và những bệnh nhân bị giết,

do sự vô tâm hoặc do một thứ thương hại dối trá.

Xin làm cho những ai tin vào Con của Mẹ

biết loan báo cho những người thời đại này Tin mừng sự sống với sự xác quyết và lòng yêu thương.

Xin cho họ được ơn đón nhận Tin mừng sự sống như một hồng ân luôn mới mẻ,

cho họ niềm vui cử hành hồng ân ấy với lòng biết ơn trong suốt cuộc đời họ,

và lòng can đảm làm chứng cho Tin mừng sự sống cách bền bỉ và tích cực,

để cùng với tất cả mọi người thiện chí,

xây dựng nền văn minh chân lý và tình yêu,

hầu chúc tụng và tôn vinh Thiên Chúa,

Đấng Tạo Hóa hằng yêu thương sự sống. Amen


[1] x. GĐ 30

[2] SSCN 11

[3] GLHT 2366; x. SSCN 12; ĐGH Piô XI, thông điệp“Casti connubii”

[4] MV 50,2; GLHT 2367

[5] SSCN 10

[6] x. MV 51,3

[7] x. SSCN 14

[8] x. GLHT 2368 và 2370

[9] GLHT 2270

[10] GLHT 2271

[11] x. GL 1398

[12] GLHT 2272

[13] x. MV 50

[14] GLHT 2376

[15] x. Huấn thị Donum vitae (Hồng ân sự sống) 2,5

[16] x. Huấn thị Donum vitae (Hồng ân sự sống) 2,4

[17] x. Huấn thị Donum vitae (Hồng ân sự sống) 2,1; GLHT 2375-2379

 

 

Bài 18

Giáo dục con cái

Có con cái ư? 
Hãy dạy dỗ và uốn nắn chúng ngay thuở còn thơ.
(Hc 7,23)

Hạnh phúc của cha mẹ là được thấy con cái nên người. Ngược lại, nếu con cái hư hỏng sẽ là một nỗi đắng cay phiền muộn. Kết quả đáng mừng hay đáng tủi ấy tuỳ vào sự bận tâm giáo dục của cha mẹ ngay từ đầu.

Giáo dục con cái không phải chỉ là một bổn phận quan trọng, mà còn là một vinh dự lớn lao của bậc làm cha làm mẹ, bởi vì được cộng tác với Thiên Chúa trong việc tạo nên những con người mới, những người con của Thiên Chúa. Đó là việc trồng người. Không chỉ trồng nên những người hữu ích cho xã hội, cho Hội Thánh mà còn trồng nên những vị thánh. Vì thế, giáo dục con cái không phải là một việc tuỳ hứng, nhưng cần có một đường hướng, một kế hoạch và những phương pháp.

1. Quyền và bổn phận giáo dục con cái

Quyền và bổn phận giáo dục con cái là cái cốt lõi của việc làm cha làm mẹ, bởi vì nó liên quan đến việc lưu truyền sự sống. So với những người khác, thì vai trò giáo dục của cha mẹ là khởi nguồn và là cơ bản vì tương quan yêu thương độc nhất vô nhị giữa cha mẹ và con cái. Vai trò giáo dục của cha mẹ không ai thay thế được và cũng không nhường cho ai được, nên không thể nào khoán trắng cho người khác hoặc để người khác chiếm đoạt.

Yếu tố nền tảng cơ bản nhất đánh dấu vai trò giáo dục của cha mẹ là tình phụ tử và mẫu tử. Chính tình yêu thương này, như nguồn mạch xuất phát, trở thành linh hồn và quy tắc để gợi ra những sáng kiến và hướng dẫn cho mọi hoạt động giáo dục cụ thể, làm cho chúng thấm đượm những giá trị của sự dịu dàng, kiên nhẫn, nhân hậu, phục vụ, vô vị lợi, hy sinh, là những hoa trái quý giá nhất của tình yêu[1].

2. Phải dạy từ lúc nào?

 Công đồng Vaticanô II ngỏ lời với các bậc làm cha làm mẹ: “Vì đã lãnh nhận ân sủng cũng như bổn phận của bí tích hôn phối nên cha mẹ phải dạy dỗ con cái ngay từ nhỏ[2]“. Cha ông chúng ta cũng thường nói:

Uốn cây từ thưở còn non,
Dạy con từ thưở con còn đương thơ.

“Còn đương thơ” hay “ngay từ nhỏ” ở đây có nghĩa là ngay từ khi còn ở trong bụng mẹ. Khoa học ngày nay cho thấy: Người mẹ ảnh hưởng đến tâm tính và sức khoẻ của đứa con ngay từ lúc phôi thai. Việc giáo dục này được gọi là thai giáo. Trong thời gian này, các tâm tình và thái độ ứng xử của cha mẹ sẽ ghi dấu sâu đậm trên tâm tính đứa con sắp chào đời. Do đó, những bậc cha mẹ thương con sẽ hết sức lưu ý, để trong thời gian mang thai sống thật lành mạnh về luân lý và tâm linh.

Tuy nhiên, thời gian thuận tiện nhất để trực tiếp giáo dục con cái, đó là khi đứa con bắt đầu có trí khôn, bắt đầu nhận biết về những điều cha mẹ dạy bảo. Lúc bấy giờ gia đình sẽ trở nên mái trường đầu tiên dạy cho đứa bé những bài học làm người. Trong mái trường đó, cha mẹ chính là những “thày cô” được tín nhiệm và yêu thương hơn cả, vì cha mẹ là những người sống gần con cái, hiểu biết con cái và yêu thương con cái hơn hết.

3. Phải dạy những gì?

Mục tiêu của của việc giáo dục Kitô giáo là giúp con cái trở thành người và trở thành người con Thiên Chúa. Khuôn mẫu của con người hoàn hảo đó là Chúa Giêsu, Đấng là Con Thiên Chúa đã hạ sinh làm người để nên mẫu mực cho chúng ta noi theo[3].

Trong việc giáo dục con cái, phải để ý đến mặt nhân bản cũng như mặt đức tin.

3.1. Giáo dục nhân bản

 Nền giáo dục nhân bản phải bao gồm cả ba phương diện: đức, trí và thể dục.

–  Thể dục: dạy con vệ sinh sạch sẽ, giữ gìn sức khoẻ.

–  Trí dục: trau dồi cho chúng về học vấn, về nghề nghiệp, để chúng có thể sống tự lập, xây dựng tương lai cuộc đời mình, góp phần xây dựng xã hội.

– Đức dục: trừ khử những thói hư tật xấu và tập luyện những tính tốt. Nhất là bốn nhân đức cột trụ làm nền tảng cho những nhân đức khác: khôn ngoan, công bằng, tiết độ và dũng cảm.

. Khôn ngoan: biết khiêm nhường lắng nghe và mau mắn vâng lời; biết suy nghĩ cân nhắc trước khi làm và khi làm xong sẽ dừng lại một chút để kiểm điểm và rút kinh nghiệm; biết xem xét và chuẩn bị kỹ để chu toàn mọi bổn phận thật chu đáo cũng như để ứng xử đúng trước những tình thế mới.

. Công bằng: Chăm chỉ làm tròn bổn phận; yêu thương mọi người, tôn trọng của cải và quyền lợi của họ; tôn trọng của chung và biết lo cho công ích; luôn thành thật trong lời nói và việc làm; không bao giờ gian lận.

. Tiết độ: Có kỷ luật, đúng giờ giấc và chừng mực trong những điều nhỏ mọn hằng ngày, trong ăn uống cũng như giải trí; tập cân nhắc đúng bậc thang giá trị theo tinh thần Kitô giáo và biết chọn lựa cách ý thức. Biết tiết kiệm. Dạy cho con cái biết giá trị của lao động cũng như giá trị thực sự của của cải vật chất. Hướng dẫn con cái chọn thú vui giải trí cũng như bè bạn

. Dũng cảm: Biết can đảm đứng vững trong điều tốt; biết chấp nhận những sai lỗi của mình, tự tin và tự lập, biết lãnh nhận trách nhiệm và hậu quả do công việc mình đã làm.

Đối với người Việt Nam, những đức tính ấy được diễn tả qua khái niệm “trung dung”, Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Những đức tính này giúp ta biết yêu thương, có lòng biết ơn, cộng tác và nâng đỡ người khác, nói năng cũng như cư xử lễ độ và tế nhị, biết suy nghĩ cân nhắc và biết tạo nên sự tin cậy lẫn nhau.

Riêng đối với nữ giới cần thêm: Công, dung, ngôn, hạnh.

Giáo dục giới tính: Ngoài ra, trong việc giáo dục nhân bản cũng phải để ý đến việc giáo dục giới tính, hướng dẫn con cái về phái tính và tính dục. Việc giáo dục này nhằm mục đích giúp con cái có một sự hiểu biết về tính dục phù hợp với lứa tuổi và tầm nhận thức, để chúng sống trong sạch, trưởng thành, xứng đáng là người nam, người nữ như ý Chúa. Trong việc giáo dục này, cũng cần dạy cho con cái biết sử dụng đúng đắn các phương tiện truyền thông, đặc biệt về phim ảnh, internet.

Nền giáo dục nhân bản này là điều hết sức cần thiết. Đức Thánh Cha nói: “Dù phải đương đầu với những khó khăn, mà ngày nay lại thường là những khó khăn to lớn trong trách nhiệm giáo dục con cái, bậc cha mẹ cần phải tin tưởng và can đảm giáo dục con cái họ theo những giá trị chính yếu của đời người. Trẻ em phải lớn lên trong một sự tự do chân chính trước các của cải vật chất, biết chọn một nếp sống giản dị và khắc khổ, vì xác tín mạnh mẽ rằng: giá trị của con người là do cái mình làm, hơn là do cái mình có.”[4]

Xem đó chúng ta thấy: Để trở thành một người Kitô hữu, thì tiên vàn phải là một người cho đúng nghĩa của nó. Hay nói một cách khác: Phải là người trước đã, rồi sau đó mới có thể là người Kitô hữu.

3.2. Giáo dục đức tin

 Là người có đạo, ngoài nền giáo dục nhân bản, cha mẹ còn phải cho con cái nền giáo dục Công giáo, nghĩa là ngay từ hồi còn tấm bé, đã phải dạy cho con cái biết mến Chúa yêu người, biết tuân giữ những giới luật của Chúa, biết tham dự những công việc đạo đức, biết siêng năng lãnh nhận các bí tích, nhờ đó con cái sẽ trở thành những Kitô hữu đích thực, nghĩa là những người có Đức Kitô trong tâm hồn và mang Đức Kitô trong cuộc sống, cũng như trở thành những người tín hữu đích thực, nghĩa là những người có đức tin và sống đức tin của mình giữa lòng cuộc đời.

Công đồng Vaticanô II nói: “Vợ chồng đã lãnh nhận phẩm giá và chức vụ làm cha mẹ, sẽ chăm lo chu toàn bổn phận giáo dục, nhất là về phương diện tôn giáo, vì bổn phận này liên hệ đến họ trước[5]“.

Công đồng Vaticanô II cũng xác định nội dung của việc giáo dục Kitô giáo như sau: “Việc giáo dục này không những chỉ giúp nhân vị được trưởng thành, nhưng chính là nhằm giúp những người đã được rửa tội, để nhờ hiểu biết sâu xa hơn mầu nhiệm cứu rỗi, thì càng ngày càng ý thức hơn về hồng ân đức tin đã nhận lãnh, biết cách thờ phượng Chúa Cha trong tinh thần và chân lý (x. Ga 4, 23), nhất là qua việc cử hành phụng vụ, cũng như được huấn luyện để biết sống theo con người mới trong công bình và thánh thiện của chân lý (Ep 4,22-24), và nhờ vậy họ đạt tới con người toàn thiện, chín chắn đạt tới sự sung mãn của Đức Kitô (x. Ep 4,13), góp phần làm cho Nhiệm thể được tăng trưởng[6].

Trong việc giáo dục đức tin, cũng cần để ý tới việc giúp con cái nhận ra ơn gọi của chúng và giúp chúng đáp lại ơn gọi đó.

Khi con cái bắt đầu học giáo lý, cha mẹ nên quan tâm tìm hiểu hệ thống các lớp giáo lý trong giáo xứ mình. Ngay cả khi con cái chưa đi học, nếu được, họ cũng nên tham gia giảng dạy hoặc hỗ trợ cho các lớp giáo lý, bởi đó là cách đơn giản để nâng cao nhận thức giáo lý của mình và tự trang bị khả năng đào tạo đức tin cho con cái. Một số nơi, vì giới phụ huynh ít tham gia, việc giảng dạy giáo lý được giao cho lớp trẻ và nói tới Giáo lý viên là người ta dễ nghĩ tới những anh chị chưa lập gia đình. Thật ra, đội ngũ Giáo lý viên phải là những người có bề dày kinh nghiệm sống, cho nên Hội Thánh rất ước mong các đôi bạn quảng đại chia sẻ sứ mạng này.

4. Để việc giáo dục đạt kết quả tốt

4.1. Đồng tâm nhất trí

Cha mẹ phải nhất trí với nhau trong đường hướng và phương thức giáo dục con cái: Tìm hiểu tính tình, năng khiếu của con cái và phải biết dùng những phương pháp thích hợp để giúp chúng đạt được mục đích. Công đồng xác quyết :

“Gia đình là một trường học phát triển nhân tính, nhưng để gia đình có thể sống trọn vẹn và chu toàn sứ mệnh mình, cần phải biết hòa hợp tâm hồn: vợ chồng phải cùng nhau bàn định, cũng như cha mẹ phải ân cần cộng tác trong việc giáo dục con cái[7]“.

Ngoài việc đồng tâm nhất trí với nhau, cha mẹ còn phải biết cộng tác với những nhà giáo dục khác, đặc biệt là các thầy cô và các Giáo lý viên.

4.2. Làm gương sáng

Kể từ lễ đính hôn, bình thường người ta chỉ còn hơn một năm để trở thành nhà giáo dục. Cách hữu hiệu nhất để biến mình thành nhà giáo dục là cương quyết sống những gì mình muốn truyền đạt cho con cái. Khi cha mẹ thăng tiến chính bản thân, nêu gương đời sống tốt đẹp về nhân cách, đạo đức và các khả năng khác, con cái sẽ noi theo. Đúng như người xưa vẫn nói:

– Cha nào con nấy,

 – Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.

Thật vậy, đứa bé, nhất là khi còn nhỏ, chưa có đủ trí khôn để phân biệt điều phải và điều trái, điều tốt và điều xấu. Nó thường bắt chước những gì cụ thể đập vào mắt nó. Thấy người lớn nói và làm thế nào, nó sẽ bắt chước mà làm như vậy. Vì thế, gương sáng của cha mẹ là điều rất cần thiết trong việc giáo dục con cái. Cha ông ta thường nói:

Lời nói như gió lung lay, 
Việc làm như tay lôi kéo.

Công đồng cũng xác quyết: “Được cha mẹ hướng dẫn bằng gương sáng và kinh nguyện gia đình, con cái và tất cả những ai sống trong khuôn khổ gia đình sẽ gặp được con đường nhân ái, cứu độ và thánh thiện dễ dàng hơn[8]“.

4.3. Tạo bầu khí gia đình đầm ấm

Cần tạo bầu khí gia đình lành mạnh, cởi mở, thánh thiện, hoà thuận, lạc quan và biết tín nhiệm nhau. Trong Tuyên ngôn về Giáo dục Kitô giáo, Công đồng Vaticanô II nói: “Chính cha mẹ có nhiệm vụ tạo cho gia đình một bầu khí thấm nhuần tình yêu cũng như lòng thành kính đối với Thiên Chúa và tha nhân, để giúp cho việc giáo dục toàn diện con cái trong đời sống cá nhân và xã hội trở nên dễ dàng. Do đó Gia đình là trường học đầu tiên dạy các đức tính xã hội cần thiết cho mọi đoàn thể[9]“.

Thư chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm 1980 nơi số 12 viết: “Gia đình của anh chị em phải trở nên như một trường học về đức tin, một nơi để cầu nguyện, một môi trường sống bác ái yêu thương và rèn luyện tinh thần tông đồ để làm chứng nhân cho Chúa”.

4.4. Tìm hiểu con cái

 Giữa cha mẹ và con cái, giữa thế hệ già và thế hệ trẻ luôn có một khoảng cách. Nếu không chịu tìm hiểu con cái, công việc giáo dục của cha mẹ sẽ không đạt được những kết quả mong muốn đã đành, mà còn gây nên những bực bội và oán trách. Quả thật, giữa cha mẹ và con cái luôn có một bức tường ngăn cách. Bức tường này chính là tuổi tác. Vì tuổi tác chênh lệch, nên thời gian và không gian của hai thế hệ già và trẻ cũng khác biệt, để rồi từ môi trường sống ấy đã phát sinh những dị biệt, những bất đồng.

Giáo dục có nghĩa là hướng dẫn, uốn nắn và làm cho tốt đẹp hơn. Vì thế, việc đầu tiên cần thực hiện ngay, đó là phải tìm hiểu con cái, phải biết con cái nghĩ gì, muốn gì, nói gì và làm gì thì mới có thể hướng dẫn chúng một cách hữu hiệu.

Điều gì tốt nơi con cái, cần biết duy trì và cổ võ để được liên tục phát triển, còn điều gì xấu, lo nhắc bảo và sửa sai bằng những lời lẽ ôn tồn và tế nhị, thành thực và yêu thương.

Có tìm hiểu con cái, cha mẹ mới cảm thông và xích lại gần con cái hơn, nhờ đó lấp đầy được hố sâu ngăn cách giữa già và trẻ, một hố sâu muôn thuở trong gia đình cũng như ngoài xã hội, đã tạo nên những mối bất bình sâu xa giữa cha mẹ và con cái.

4.5. Kiên nhẫn trong việc giáo dục

Uốn cây, cần phải kiên nhẫn, bằng không nó sẽ gãy. Vì thế, người xưa đã từng khuyên: Dục tốc bất đạt. Vội vã sẽ không thành.

Trẻ con thường ham chơi và mau quên. Cho nên nói một lần mà thôi chưa đủ, chúng ta phải nói lần nữa và lần nữa. Chúng ta phải nhắc đi nhắc lại để những lời khuyên nhủ được thấm dần vào đầu óc của chúng.

Đừng bao giờ thất vọng và nản chí trong việc uốn nắn sửa dạy con cái, bởi vì đó là một ơn gọi, một thiên chức cao cả mà Chúa đã dành cho chúng ta, những bậc làm cha và làm mẹ.

4.6. Cầu nguyện cho con cái

 Một trong những điều mà bậc làm cha làm mẹ cần nhớ, đó là ý thức mình là những người cộng tác của Thiên Chúa: cộng tác trong việc vun trồng sự sống, cộng tác trong việc truyền sinh cũng như trong việc giáo dục con cái. Một trong những ơn của bí tích Hôn phối là giúp hai vợ chồng nên thánh trong đời sống vợ chồng, trong việc đón nhận và giáo dục con cái[10]. Bởi vậy, trong việc giáo dục con cái, hai vợ chồng cần chạy đến với Chúa, bởi vì “Không có Thầy, các con không thể làm được gì” (Ga 15, 5). Đến với Chúa để xin Ngài soi sáng và hướng dẫn cách thức dạy dỗ. Cầu nguyện cho con cái, đặc biệt trong những giai đoạn phát triển khó khăn của chúng.

Sau cùng và hết sức quan trọng, để biết dạy dỗ con em, ta cần biết đến với vị Thầy tối cao của nhân loại là Chúa Giêsu Kitô: “Hãy học cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng” (Mt 11,29). Ngài sẽ ban Chúa Thánh Thần cho ta để ta học được sự hiền lành và khiêm nhường cần có.

4 GHI NHỚ :

1. H. Vì sao giáo dục con cái là bổn phận quan trọng nhất của cha mẹ?

T. Vì cha mẹ được cộng tác với Thiên Chúa trong việc tạo nên những con người mới, những người con của Thiên Chúa. Bổn phận này không ai thay thế được.

2. H. Phải giáo dục con cái những gì?

T. Ngay từ lúc con cái còn tấm bé, cha mẹ đã phải cho chúng một nền giáo dục nhân bản, đồng thời còn phải cho chúng một nền giáo dục Công giáo, giúp chúng trở thành những Kitô hữu trưởng thành.

3. H. Làm sao để việc giáo dục đạt kết quả tốt?

T. Để đạt kết quả tốt trong việc giáo dục con cái, cha mẹ cần phải :

– Một là đồng tâm nhất trí với nhau.

– Hai là nêu gương trước những gì mình muốn truyền đạt.

– Ba là tạo bầu khí yêu thương trong gia đình.

– Bốn là tìm hiểu con cái.

– Năm là kiên nhẫn trong việc giáo dục.

– Sáu là cầu nguyện cho con cái.

4 SUY NGHĨ :

1. Anh chị có suy nghĩ gì về việc sử dụng đòn vọt trong việc dạy bảo con cái?

2. Đâu là những thái độ “bất cập” trong việc giáo dục con cái mà cha mẹ thường hay mắc phải?

3. Muốn thành công trong việc giáo dục con cái, đối với anh chị, điều nào là quan trọng nhất?

4 CẦU NGUYỆN :

Lạy thánh Giuse và Mẹ Maria, xưa kia ở Nadarét, hai Đấng đã được diễm phúc đón nhận Con Thiên Chúa làm con của mình. Hai Đấng đã chu toàn bổn phận làm cha làm mẹ trong việc nuôi dưỡng, giáo dục và tặng ban cho nhân loại một người con tuyệt vời là Chúa Giêsu. Ngày hôm nay chúng con cũng muốn nhìn vào gương Thánh Gia để xây dựng gia đình chúng con. Chúng con muốn đóng góp cho xã hội những người công dân tốt và cho Hội Thánh những Kitô hữu thánh thiện. Xin giúp chúng con ngay từ bây giờ biết chuẩn bị cho mình những khả năng cần thiết trong việc nuôi dưỡng và giáo dục những đứa con mà Chúa sẽ gửi đến cho chúng con sau này. Ước chi chúng con sẽ cố gắng hoàn thiện hơn từng ngày để trở thành những người cha người mẹ tốt lành và gương mẫu. Amen


[1] x. GĐ 36

[2] GD 3

[3] x. GLHT 459; 520

[4] GĐ 37

[5] GS 48

[6] x. GĐ 39

[7] GS 52

[8] MV 48

[9] GD 3

[10] x. GLHT 1641

 

Bài 19

Đạo hiếu

Ai không biết lo lắng đến người thân và nhất là gia quyến mình,
thì nó đã chối bỏ đức tin, và còn tệ hơn là người không tin.
 
(1Tm 5,8)

Nói đến gia đình Việt Nam là nói đến đạo hiếu và tình gia tộc. Bước vào cuộc sống hôn nhân, hai vợ chồng không phải chỉ bước vào cuộc sống riêng tư đóng kín chỉ với riêng hai người, mà còn mở ra với cha mẹ đôi bên, cũng như với anh chị em họ hàng.

Như chúng ta đã biết: sau ba điều răn nói về bổn phận đối với Thiên Chúa, điều răn thứ tư nói về bổn phận thảo kính cha mẹ. Như thế, Kinh Thánh coi hiếu thảo là điều răn thứ nhất và quan trọng nhất trong tương quan giữa người với người[1]. “Thiên Chúa muốn rằng sau Ngài, chúng ta phải tôn kính cha mẹ vì đã sinh thành và dạy cho chúng ta biết Thiên Chúa[2]“. Chính Chúa Giêsu, khi đến trần gian đã nêu gương hiếu thảo cho chúng ta: Cuộc sống ở trần gian của Ngài vỏn vẹn chỉ có ba mươi ba năm, nhưng Ngài đã dành ba mươi năm sống hiếu thảo, vâng lời trong gia đình Nadarét[3].

1. Với cha mẹ

1.1. Khi cha mẹ còn sống

Lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ phát xuất từ sự biết ơn đối với những bậc đã cộng tác với Thiên Chúa thông truyền cho mình sự sống, cũng như đã chăm lo nuôi dưỡng và giáo dục mình nên người. “Hãy hết lòng tôn trọng cha con và đừng quên những cơn đau đớn của mẹ. Hãy nhớ rằng nhờ cha mẹ, con mới sinh ra. Làm sao con báo đền được điều cha mẹ cho con?” (Hc 7,27-28)

Công đồng Vaticanô II dạy: “Con cái sẽ đáp lại công ơn cha mẹ với lòng biết ơn, tâm tình hiếu thảo và tin cậy, sẽ theo đạo làm con mà phụng dưỡng cha mẹ trong nghịch cảnh cũng như trong tuổi già cô quạnh[4]“.

Khi cha mẹ còn sống, con cái bày tỏ lòng hiếu thảo qua việc: yêu mến, tôn kính, vâng lời, chăm sóc và giúp đỡ cha mẹ.

– Yêu mến và tôn kính cha mẹ. Thiên Chúa muốn ta thật lòng yêu mến và tôn kính cha mẹ trong tư tưởng, lời nói, việc làm.

. Trong tư tưởng, ta thực tình nhìn nhận cha mẹ đáng trọng kính, vì đã sinh thành, nuôi dưỡng, dạy dỗ, hướng dẫn, gây dựng hạnh phúc cuộc đời cho ta.

. Trong lời nói, ta lựa cách xưng hô và chuyện trò thật khiêm cung, êm ái, không bao giờ dùng những lời nói cứng cỏi, nóng nảy đối với cha mẹ.

. Trong việc làm, ta năng thăm viếng, hoặc thư từ, hỏi han, bày tỏ lòng yêu mến bằng quà biếu, tìm cách làm cho cha mẹ được vui. Khi lo liệu việc trọng đại, dù đã ở riêng, ta cũng nên bàn hỏi cha mẹ vì các ngài có ơn Chúa để giúp ta[5]. “Khi trưởng thành, con cái vẫn phải tôn kính cha mẹ, biết đón trước ý muốn của các ngài, sẵn sàng bàn hỏi và chấp nhận những lời khuyến cáo đúng đắn của cha mẹ. Khi không còn chung sống với cha mẹ, con cái vẫn phải tôn kính, vì lòng tôn kính này bắt nguồn từ sự kính sợ Thiên Chúa, một trong bảy ơn Chúa Thánh Thần[6]“.

– Vâng lời cha mẹ. Lòng hiếu thảo được bày tỏ qua sự ngoan ngoãn và vâng phục. “Hỡi con, hãy giữ lấy lời huấn dụ của cha, và đừng ruồng bỏ giáo huấn của mẹ…. Chúng sẽ hướng dẫn con khi con đi, canh giữ con khi con nằm, và khi con thức dậy, chúng chuyện trò với con”(Cn 6,20-22). “Con ngoan mến chuộng lời cha quở mắng, kẻ nhạo báng chẳng nghe lời khiển trách” (Cn 13,1).

Khi chưa trưởng thành, con cái phải mau mắn vâng lời cha mẹ trong tất cả những gì hợp luật Chúa, không nên trách móc phàn nàn. “Hỡi những người con, hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là đẹp lòng Chúa”(Cl 3,20). Ngay cả khi đã trưởng thành và dù đã ở riêng, nếu ta có làm điều gì sai trái mà được cha mẹ nhắc nhở, cần mau mắn vâng theo. Hơn nữa, người con trưởng thành cần biết đón trước điều cha mẹ mong muốn để làm đẹp lòng cha mẹ. Khi cha mẹ lâm chung, có trăn trối điều gì, con cái nên vui lòng tuân giữ. Ngược lại, nếu cha mẹ có ép buộc điều gì trái lương tâm, con cái nên tìm cách giãi bày để cha mẹ cảm thông, chứ không được hùa theo[7].

– Chăm sóc và giúp đỡ cha mẹ. Phải luôn luôn giúp đỡ cha mẹ về phần hồn và phần xác, nhất là khi các ngài già cả, ốm đau, thiếu thốn, cần tận tâm tận lực phụng dưỡng, lo thuốc thang đầy đủ, vui vẻ thăm nom sớm tối. Đây là trách nhiệm của con cái. Đừng vì keo kiệt, ganh tị nhau mà để cha mẹ khổ cực. Phải cầu nguyện cho cha mẹ được mọi ơn lành, lo liệu cho cha mẹ được lãnh các bí tích và dọn mình chết lành. Sách Huấn ca nhắc nhở những người làm con:

Hỡi kẻ làm con, hãy gánh lấy tuổi già cha ngươi, 
chớ làm phiền lòng người, khi người còn sống.
 
Nếu tinh thần người sa sút, thì hãy rộng lượng,
 
ngươi là kẻ trai tráng, chớ đành khinh dể người.
 
Vì của dâng cho cha, sẽ không rơi vào quên lãng.
 
Của biếu cho mẹ, sẽ đền bù tội lỗi,
và xây dựng đức công chính của người.

Ai bỏ rơi cha mình thì khác nào kẻ lộng ngôn,
ai chọc giận mẹ mình, sẽ bị Đức Chúa nguyền rủa.
(Hc 3,12-16)

1.2. Khi cha mẹ qua đời

Khi cha mẹ qua đời, con cái tỏ lòng hiếu kính bằng cách lo an táng chu đáo, cầu nguyện và xin lễ cho cha mẹ. Anh chị em cần hoà thuận yêu thương nhau, noi gương cha mẹ để nên lành nên thánh. Không những cầu nguyện cho cha mẹ, con cái còn xin cha mẹ cầu nguyện cho mình trước mặt Chúa, như khi còn sống, các ngài vẫn cầu nguyện cho mình.

Hội Thánh Công giáo đón nhận việc thờ cúng ông bà như thế nào? Hội Thánh nhìn nhận đó là một hình thức tốt đẹp để bày tỏ lòng tưởng nhớ công ơn tiền nhân. Hội Thánh khuyến khích các tín hữu phát huy những tinh hoa trong văn hoá dân tộc. Tuy nhiên cần loại trừ những hình thức trái ngược với giáo lý Công giáo.

Cũng cần nâng cao ý thức lịch sử về gia đình: Quan tâm bảo tồn gia phả và những kỷ vật của ông bà cha mẹ đã qua đời. Gia đình nào đã thất lạc gia phả, nên tìm cách dựng lại những gì còn biết được, nên làm càng sớm càng tốt khi những bậc cao niên trong dòng họ còn đủ minh mẫn để cung cấp các dữ liệu họ nắm được. Cũng nên quan tâm lưu giữ những hình ảnh và giấy tờ quan trọng của gia đình để các thế hệ sau có sử liệu.

2. Với họ hàng đôi bên

Đối với người Việt Nam, tương quan với họ hàng gia tộc là điều quan trọng. Lấy vợ, lấy chồng không chỉ là lấy một người mà “lấy” cả họ hàng nhà chồng, nhà vợ. Cách cư xử với họ hàng bên chồng hay bên vợ không chỉ liên quan đến bản thân mà còn liên quan đến cả họ hàng bên mình. Bởi vậy, cần yêu mến và học cách cư xử với tất cả mọi người trong dòng họ hai bên, như ông bà, chú bác, cô dì, cậu mợ và anh chị em. Cần sống tình gia tộc bằng cách năng lui tới viếng thăm và giúp đỡ theo khả năng của mình.

4 GHI NHỚ :

1. H. Tại sao con cái phải hiếu thảo đối với cha mẹ?

T. Vì cha mẹ là những người cộng tác với Thiên Chúa trong việc sinh thành, nuôi dưỡng và giáo dục ta nên người. Ngoài ra, đây còn là điều răn Chúa đã truyền dạy.

2. H. Con cái biểu lộ lòng hiếu thảo với cha mẹ như thế nào?

T. Con cái bày tỏ lòng hiếu thảo qua những việc sau đây:

– Một là khi các ngài còn sống thì phải yêu mến, tôn kính, vâng lời, chăm sóc và giúp đỡ.

– Hai là khi các ngài qua đời phải lo an táng, cầu nguyện và xin lễ.

– Ba là anh chị em trong nhà cần hoà thuận yêu thương nhau, noi gương cha mẹ để nên lành thánh.

3. H. Ta cần cư xử thế nào với họ hàng đôi bên?

T. Ta phải kính trọng và yêu mến mọi người trong gia tộc; năng lui tới và giúp đỡ theo khả năng mình.

4 GỢI Ý SUY NGHĨ :

1. Có người nói: “Theo đạo Chúa là bỏ ông bà”. Anh chị trả lời thế nào?

2. Anh chị đã biết gì về cha mẹ, anh chị em và họ hàng của bạn mình?

4 CẦU NGUYỆN :

Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, Cha đã muốn biểu lộ tình Cha yêu thương chúng con qua tấm lòng yêu thương của người cha người mẹ trần thế. Cha còn muốn rằng, sau Cha, chúng con phải tôn kính cha mẹ vì các ngài đã có công sinh thành và dưỡng dục chúng con nên người. Xin Cha chúc lành, nâng đỡ và ban mọi ơn lành hồn xác cho cha mẹ chúng con. Xin giúp chúng con luôn biết biết lấy tình yêu mà đáp lại tình yêu của các ngài bằng cách sống hiếu thảo, yêu mến, tôn kính, vâng lời và phụng dưỡng các ngài.

Xin cho các ngài, ngay ở đời này tìm thấy niềm hạnh phúc được phục vụ Cha và yêu mến Cha. Và xin cho chúng con một ngày kia được sum họp với nhau trên Nước Trời. Amen


[1] x. Ep 6,1-2; Is 49,15; Is 63,16; 64,7

[2] GLHT 2197

[3] x. Lc 2,51-52

[4] MV 48

[5] x. Hc 3,1-16

[6] GLHT 2217

[7]x. Lc 2,51-52; Dt 5,8; Mt 10,34-39; GLHT 2217

 

Bài 20

Những ngày lễ của gia đình

  Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay, 
anh em được sống vui vầy bên nhau.
 (Tv 133,1)

Mỗi gia đình đều có những ngày lễ riêng, đánh dấu những biến cố vui, buồn của gia đình. Chẳng hạn như ngày giỗ của ông bà, cha mẹ, ngày kỷ niệm thành hôn của vợ chồng, ngày sinh nhật, ngày lễ bổn mạng của một người trong gia đình… Những ngày lễ của gia đình là dịp để mọi người trong gia đình quây quần bên nhau trong tình yêu thương hiệp nhất, vun xới thêm tình gia đình.

Đầu năm, mỗi gia đình nên ghi các ngày lễ của gia đình mình vào cuốn lịch Công giáo để dễ nhớ.

1. Lễ Gia tiên

Trong Cựu Ước, Thiên Chúa thường tự xưng là Thiên Chúa của Abraham, của Ixaác, của Giacop, nghĩa là Thiên Chúa các tổ phụ. Ngài không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của người sống.[1] Bên kia cái chết, các bậc tiền nhân đã thực sự “sống khôn thác thiêng” đều đang sống trong Thiên Chúa. Các tín hữu ở trần gian kết hợp với họ trong mầu nhiệm các thánh thông công. Do đó, khi bày tỏ lòng hiếu kính, nhớ đến gia tiên tổ phụ, người Công giáo không làm một sự thờ phượng nằm ngoài sự thờ phượng Thiên Chúa, nhưng là để nhờ đó mà thêm lòng biết ơn và kính mến Thiên Chúa là nguồn mọi tình phụ tử trên trời dưới đất[2]. Đàng khác, khi nhớ đến tổ tiên theo huyết thống, người Công giáo cũng nhớ đến các tổ phụ trong đức tin.

Người Việt Nam thường có thói quen rất tốt: mỗi khi gia đình có việc buồn vui đều luôn tưởng nhớ gia tiên và biểu lộ tâm tình ấy bằng việc cúng lễ, hoặc đơn giản thắp một nén nhang trên bàn thờ. Người tín hữu Công giáo Việt Nam tiếp nhận truyền thống tốt đẹp ấy với một cái nhìn chính xác, phù hợp với đức tin Kitô giáo.

Mỗi gia đình nên có một bàn thờ gia tiên đơn sơ. Ngày tết, ngày giỗ nên giữ một cây hương cháy suốt ngày. Tránh những chi tiết trái với đức tin và tránh tốn kém không hợp tình hợp lý. Về hình thức, cốt sao biểu lộ được tấm lòng và giúp con cháu trong nhà học được tâm tình biết ơn tổ tiên và biết ơn Thiên Chúa Tạo Hoá.

Khi cúng lễ, cần nhắc cho mọi người trong nhà nhớ: đức tin Công giáo dạy ta biết rằng người quá cố không cần đến thức ăn vật chất, các lễ vật chỉ nhằm bày tỏ lòng biết ơn kính nhớ mà thôi.

Lễ gia tiên thường do vị trưởng tộc hoặc người cha trong gia đình chủ lễ. Nếu vị này vắng mặt, thì vợ hoặc con trai hoặc con dâu trưởng chủ lễ.

2. Dọn tất niên

Tết Nguyên đán là dịp sum họp gia đình, kính nhớ tổ tiên và thăm viếng nhau để gia tăng tình thân ái. Cần loại bỏ những chi tiết phong tục quá rườm rà, cũng như những gì đi ngược lại với Tin mừng, và phải lưu ý phát huy những gì tốt đẹp. Khởi đầu là việc dọn tất niên.

Từ giữa tháng chạp là thời gian thuận tiện để mỗi gia đình tổng kết một năm. Cha mẹ và con cái sẽ cùng nhau:

– Làm xong những việc cần thiết còn đọng lại.

– Tổng kết chi thu, thanh toán nợ nần.

– Tổng kết kinh nghiệm sống, kinh nghiệm làm việc một năm qua.

– Chọn hướng sống hoặc chủ đề giáo dục gia đình trong năm mới.

– Dọn mình xưng tội cuối năm.

– Cha mẹ đỡ đầu thăm nom nhắc nhở con thiêng liêng (các con thiêng liêng thì chúc tết cha mẹ đỡ đầu dịp cuối năm hoặc đầu năm).

– Cũng nên dành một tuần lễ kết bó hoa thiêng liêng tạ ơn Thiên Chúa và cầu cho nhau (gồm: dâng lễ, rước lễ, đọc Lời Chúa, lần hạt, hy sinh…)

Những việc trên đây sẽ làm xong trước ngày ăn bữa tất niên (vào ngày cuối năm hoặc một ngày nào sớm hơn, tùy tiện). Bữa ăn này được coi như để kết toán mọi chuyện: còn gì phải xin lỗi nhau, hoặc góp ý xây dựng đều nói hết trong dịp này, để rồi ngày đầu năm sẽ không còn phải nhắc gì đến chuyện cũ, chỉ chúc tuổi nhau thật vui vẻ.

Cũng nên nhân bữa ăn này mà trình bày chủ đề sống của năm tới và dự tính trước việc vui xuân của gia đình, thu xếp sao để trẻ em khỏi lây nhiễm thói xấu cờ bạc ngoài xã hội.

3. Tưởng nhớ gia tiên dịp Tết Nguyên Đán

Dịp Tết Nguyên Đán, trong những gia đình theo đúng tinh thần Việt Nam, ẩn dưới những niềm vui rộn rã đầu xuân là cả một thực tại linh thiêng trầm mặc đầy ắp không gian: cõi hữu hình và cõi vô hình đan dệt vào nhau, ông bà tổ tiên đã khuất như thể đang có mặt giữa con cháu một cách thân thiết, gần gũi, linh thiêng và đầy an ủi. Có được bầu khí ấy là nhờ các nghi lễ rất nghiêm túc của phụng tự gia đình.

Các nghi lễ này mở đầu với giờ “cúng đón” (đón ông bà về ăn tết với con cháu) vào ngày 29 hoặc 30 tết, và kết thúc với giờ “cúng đưa” (tiễn chân ông bà) vào ngày mùng 3 hay mùng 4 tết (có nhà cúng đưa từ chiều mùng 2). Người Công giáo biết rằng các linh hồn đã về với Thiên Chúa vẫn hiệp thông với các tín hữu ở trần gian thường xuyên, chứ không riêng mấy ngày tết, cho nên không có chuyện đón ông bà về ăn tết và tiễn ông bà đi. Tuy nhiên, thiết tưởng ngày nay cả nơi đại chúng người không có đạo, không mấy ai còn hiểu hai chữ đón đưa này theo nghĩa đen, nhưng hiểu theo một nghĩa tượng trưng sâu sắc, nhằm xác định một thái độ nội tâm và đánh dấu khoảng thời gian họ muốn dành để tưởng nhớ gia tiên một cách thật sâu đậm, khoảng thời gian họ muốn để cho tâm hồn lắng đọng trong niềm cảm mến biết ơn.

Trong khoảng thời gian ấy, bàn thờ gia tiên lúc nào cũng có khói hương, mỗi ngày người ta cúng hai ba lần vào đúng giờ cả nhà quy định trước. Mỗi gia đình có một người trực ở nhà để giữ cho hương đèn được liên tục, và lo nấu thức ăn, đúng giờ thì bày lên bàn thờ, thành tâm cầu nguyện. Người trực đóng vai đại diện gia đình, luôn ở trong tâm tình cung kính trước sự hiện diện của anh linh tiên tổ, để bày tỏ niềm biết ơn và tưởng nhớ. Ngày nay, cả người không có đạo cũng không mấy ai còn nghĩ ông bà tổ tiên cần “ăn tết”, nhưng người ta thấy rằng sự túc trực để bày tỏ lòng thành là điều cần thiết. Đó là một tâm tình rất thiêng liêng cao quý mà bầu khí của các lễ nghi gia tiên đã đem lại.

Khi đón nhận các truyền thống tốt đẹp của dân tộc, người Công giáo nhằm đạt được phần tinh hoa, chứ không vụ vào những hình thức rườm rà. Tuy vậy, trong mức độ vừa phải, hình thức vẫn cần thiết. Để phục hồi và phát huy được bầu khí linh thiêng thuận lợi cho tình cảm và hạnh phúc gia đình, rất cần giữ lấy những hình thức diễn tả tối thiểu và chính yếu.

4. Lễ giao thừa

Tối cuối năm, gia đình đoàn tụ, giải trí chung với nhau, cùng thức đón giao thừa. Giây phút kết thúc năm cũ và bắt đầu năm mới là lúc thật ý nghĩa để ca tụng Chúa, Đấng làm chủ thời gian và lịch sử. Khí xuân mới cũng gợi cho ta nhớ đến công trình sáng tạo của Ngài. Chúng ta xin Chúa chúc lành cho một năm mới đang bắt đầu. Sau khi cầu nguyện, mọi người chúc tuổi nhau rồi đi ngủ.

Lễ giao thừa không phải là lễ gia tiên. Lễ gia tiên đã được thực hiện vào lúc “tiên thừa”, tức là lúc đầu hôm đêm cuối năm. Tuần hương thắp lúc giao thừa là để kính thờ Đấng Tạo Hoá và cầu nguyện với Ngài.

5. Lễ Minh niên

Gia đình sum họp buổi sáng đầu năm là điều rất quý giá. Thánh lễ ở nhà thờ xong, mọi người về nhà ngay. Các cháu mừng tuổi ông bà, con cái mừng tuổi cha mẹ, mọi người mừng tuổi nhau.

6. Lễ bổn mạng một người trong gia đình

Trước ngày lễ, người có tên thánh bổn mạng nên dành vài giờ tĩnh tâm cầu nguyện. Ngày lễ, cả nhà đi dự lễ, rước lễ sốt sắng. Kinh tối, theo chương trình trong tuần (nên hỏi linh mục về lời nguyện ngày lễ, chép sẵn từ trước). Nhớ nhắc con thiêng liêng dọn mừng lễ bổn mạng. Hôm lễ, nên mời các con thiêng liêng dùng cơm.

7. Giáp năm ngày rửa tội

Trước ngày lễ, người có lễ kỷ niệm nên dành vài giờ tĩnh tâm cầu nguyện. Ngày lễ, cả nhà đi dự lễ, rước lễ sốt sắng. Trong giờ Kinh tối, gia đình cùng hiệp ý dâng lời tạ ơn, đồng thời cũng nhắc nhớ nhau sống xứng đáng ơn gọi làm Kitô hữu.

8. Thôi nôi hoặc sinh nhật

Đây là dịp vui của toàn gia đình. Những món quà nho nhỏ của mọi người vào dịp này là một cách bày tỏ sự quan tâm và yêu thương nhau. Nên tổ chức một bữa ăn để tạo thêm bầu khí yêu thương. Giờ kinh tối cũng là dịp để toàn thể gia đình cùng hiệp thông với nhau trong niềm vui này.

9. Giáp năm ngày cưới

Mỗi lần phong thánh, Hội Thánh cũng ấn định ngày mừng lễ hằng năm, thường là vào ngày qua đời của vị thánh. Ngày 22-10-2001 vừa qua, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã phong chân phước cho đôi vợ chồng người Ý là Luy và Maria Beltrame Quattrocchi. Tuy nhiên, để ấn định ngày mừng lễ, ngài không chọn ngày qua đời của họ như thường lệ, mà lại chọn ngày kỷ niệm lễ thành hôn của họ: ngày 25-11-1905.

Trước ngày kỷ niệm lễ thành hôn, nếu có điều kiện, vợ chồng nên tĩnh tâm vài giờ, nhớ lại tình thương Chúa và kiểm điểm đời sống để tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình. Ngày kỷ niệm, vợ chồng, con cái cùng đi dự lễ. Ở nhà, trong bữa ăn kỷ niệm, nên nhắc đến niềm vui này. Những dịp khác trong năm có thể mang những hình thức đơn giản, nhưng hôm nay phải là đại lễ của gia đình. Nếu được, cũng nên mời vài đôi bạn thân thiết cùng dự bữa ăn và chia sẻ kinh nghiệm. Giờ kinh tối, nên dành ít phút để dâng lên Chúa tâm tình tạ ơn, xin Chúa chúc lành và củng cố mối giây yêu thương giữa hai vợ chồng và tất cả gia đình.

10. Ma chay

10.1. Trong thánh lễ an táng cũng như trong những dịp cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời, Hội Thánh cử hành mầu nhiệm phục sinh, xác tín rằng những người đã tin vào Đức Kitô và đã chịu phép Rửa tội để nên chi thể Ngài, sẽ được cùng Ngài vượt qua sự chết mà đến sự sống. Vì thế, mọi lời dẫn giải, lời ca, lời kinh trong các dịp ấy phải diễn tả được niềm hy vọng vào đời sống vĩnh cửu. Trong tinh thần đức tin, thân nhân của người mới qua đời cũng cần tỏ ra can đảm, bình an, tránh khóc lóc ai oán.

10.2. Người Công giáo đón nhận tất cả những gì tốt đẹp trong truyền thống dân tộc về việc tôn kính ông bà tổ tiên cũng như về việc mai táng, nhưng dứt khoát loại bỏ những chi tiết không phù hợp với đức tin, như coi ngày giờ, coi phương hướng, rải giấy vàng bạc, vẽ bùa, đập chén bát khi động quan, vv…

10.3. Tang phục: Nên có một dấu hiệu nào đó để nói lên tâm tình đau buồn thương tiếc tự nhiên của ta, nhưng không nên để nó che mờ nỗi vui mừng lớn lao đích thực của người con vừa được gọi về nhà Cha và niềm hy vọng vào một ngày kia sẽ gặp lại người ấy trong hạnh phúc quê trời. Tránh những tang phục rườm rà gây cảm tưởng mình hoàn toàn mất mát, thất vọng ê chề và những gì không rõ ý nghĩa.

10.4. Mọi cách diễn tả trong tang lễ cũng như trong việc thờ kính tổ tiên phải có ý nghĩa rõ ràng chính xác, hợp với đức tin và tình yêu thương. Làm một hành vi, ta phải hiểu ý nghĩa của hành vi đó. Ví dụ, việc rảy nước thánh và vái kính thi hài phải được hiểu đúng:

– Rảy nước thánh trên thi hài là để nhớ rằng nhờ nước rửa tội, người tín hữu đã được ghi tên vào số những người được sống đời đời.

– Thắp nhang đèn, vái kính trước thi hài tín hữu là vì thân xác ấy đáng tôn trọng: lúc còn sống, thân xác ấy đã là đền thờ Chúa Thánh Thần, và giờ đây đang đợi chờ ngày sống lại.

10.5. Trong việc cầu nguyện cho người quá cố, Lời Chúa là phần quan trọng, nên chọn đoạn Kinh Thánh cho thích hợp.

10.6. Người hướng dẫn các giờ cầu nguyện nên làm phấn khởi lòng trông cậy của thân nhân người quá cố, cũng như hun đúc niềm tin của mọi người đang hiện diện, nhưng phải liệu sao để không làm phật lòng những người đang buồn phiền.

11. Lễ giỗ

Việc cầu nguyện trong ngày giỗ vừa để cảm tạ Chúa đã giải thoát các bậc tổ tiên, đưa về hưởng nhan Chúa, vừa để cầu xin Chúa sớm giải thoát những người đang phải ở luyện ngục (thường đối với những người mới qua đời, ta hướng tới việc cầu hồn, còn đối với những người đã qua đời từ lâu, ta có thể tin vào lòng Chúa nhân từ mà dâng lời cảm tạ). Ngay cả những vị đã chết mà không chịu phép Rửa tội, ta vẫn tin rằng Thiên Chúa nhân từ và đầy quyền năng đã có cách cứu vớt họ trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô.

Giờ kinh tối sẽ theo ngày trong tuần, với lời nguyện giỗ. Nếu là cầu hồn, thì theo mẫu canh thức cầu nguyện cho tín hữu đã qua đời.

Cũng đừng quên rằng chúng ta có thể cầu nguyện với những bậc tổ tiên đang được hưởng hạnh phúc với Thiên Chúa. Nói đúng hơn, ta có thể xin họ cầu nguyện với Chúa cho ta. Khi còn sống, họ đã yêu thương cầu nguyện cho ta, thì khi đã về với Chúa, họ còn yêu thương ta hơn và lời cầu nguyện của họ còn hữu hiệu hơn.

 

4 GHI NHỚ :

1. H. Những ngày lễ của gia đình mang ý nghĩa gì?

T. Những ngày lễ của gia đình là dịp để mọi người quây quần bên nhau trong tình yêu thương hiệp nhất, vun xới thêm tình nghĩa, duy trì những nét đẹp truyền thống của gia đình mình.

2. H. Đối với các dịp lễ của gia đình, ta nên tổ chức thế nào?

T. Ta nên tổ chức đơn sơ, vừa phù hợp với nét đẹp của văn hoá dân tộc, vừa biểu lộ được đức tin Kitô giáo của mình.

4 GỢI Ý SUY NGHĨ :

1. Ngày lễ nào trong gia đình đã để lại trong anh chị dấu ấn sâu đậm nhất?

2. Những ngày lễ giỗ trong gia đình anh chị được tổ chức thế nào?

3. Anh chị đã làm gì khi đến ngày sinh nhật hoặc ngày lễ bổn mạng của cha mẹ, hoặc anh chị em trong gia đình?

4 CẦU NGUYỆN :

Lạy Chúa,
Cha đã làm cho chúng con thành một gia đình.
Chúng con cần đến nhau
Chúng con yêu thương nhau.
Chúng con tha thứ cho nhau.
Chúng con làm việc với nhau.
Chúng con vui đùa có nhau
Chúng con cầu nguyện bên nhau.

Cùng với nhau chúng con lắng nghe Lời Chúa
Cùng với nhau chúng con lớn lên trong Đức Kitô
Cùng với nhau chúng con yêu thương mọi người chung quanh
Cùng với nhau chúng con phụng thờ Chúa
Cùng với nhau chúng con hy vọng Nước Trời.

Lạy Chúa,

Đó là những điều chúng con ước nguyện,
Xin giúp chúng con đạt tới
 
nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen.

 


[1] x. Mt 22,32

[2] x. Ep 3,14

 

 

Bài 21

Gia đình và xã hội

“Sự sáng của các con cũng phải chiếu giải ra trước mặt thiên hạ, 
để họ xem thấy việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời”
 
(Mt 5,16)

Giữa gia đình và xã hội có một mối liên hệ mật thiết. “Tương lai của nhân loại sẽ đến qua gia đình[1]“. Ngược lại, xã hội có trật tự yên ổn thì gia đình mới phát triển. Chính vì thế, gia đình và xã hội có bổn phận phải góp phần xây dựng, bảo vệ, củng cố và phát triển lẫn nhau.

Riêng đối với người Kitô hữu, mối quan hệ giữa gia đình và xã hội còn sâu sắc hơn, bởi vì tính cách trần thế là nét riêng biệt và đặc thù của ơn gọi Kitô hữu giáo dân. “Người giáo dân sống giữa trần gian, giữa những cảnh sống thường ngày trong gia đình và ngoài xã hội. Đó là nơi Thiên Chúa mời gọi họ. Nhờ sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Âm, như men từ bên trong, họ thánh hoá thế giới bằng việc thi hành những nhiệm vụ của mình[2]“.

1. Gia đình là tế bào đầu tiên và sống động của xã hội

Gia đình là tế bào căn bản của đời sống xã hội, là xã hội tự nhiên, nơi đó người nam và người nữ được mời gọi tận hiến cho nhau trong tình yêu và trong việc thông truyền sự sống. Quyền bính, sự ổn định và đời sống gắn bó trong gia đình là nền tảng cho tự do, an ninh và tình huynh đệ của xã hội.

“Gia đình là cộng đoàn, nơi đó từ thời thơ ấu, con người được học biết tôn trọng những giá trị luân lý, tôn thờ Thiên Chúa và biết sử dụng tự do. Đời sống gia đình chuẩn bị cho đời sống xã hội[3]“.

2. Xã hội phục vụ gia đình

Gia đình có tốt thì xã hội mới tốt. Tuy nhiên, ngày nay đời sống gia đình đang gặp phải nhiều bóng tối. Nề nếp gia phong bị suy giảm. Khuynh hướng hưởng thụï ích kỷ phát triển dẫn đến lối sống buông thả, từ đó làm gia tăng những vụ ly dị, phá thai, không còn ý thức về phẩm giá sự sống. Con số thanh thiếu niên rơi vào xì ke, ma tuý, mại dâm, sống lang thang ngoài đường phố tăng thêm nhiều…

Chính vì thế, mọi người hữu trách và mọi người thiện chí đều phải quan tâm đến việc bảo vệ, củng cố và thăng tiến các giá trị đời sống gia đình. Đặc biệt, cần tôn trọng, trợ giúp và nhất là bảo đảm cho gia đình có được các quyền sau đây:

– “Quyền tự do lập gia đình, quyền sinh con cái và giáo dục chúng theo những xác tín luân lý và tôn giáo của mình”.

– “Quyền bảo toàn dây liên kết vững bền của hôn nhân và cơ chế gia đình”.

– “Quyền tự do tuyên xưng đức tin và thông truyền đức tin, quyền giáo dục đức tin cho con cái bằng những phương tiện và cơ chế cần thiết”.

– “Quyền tư hữu, tự do làm việc, có việc làm, có nhà ở, tự do di cư”.

– “Quyền được chăm sóc y tế trợ cấp tuổi già, phụ cấp gia đình, tùy theo cơ chế của các quốc gia”.

– “Quyền được bảo vệ an ninh và cuộc sống lành mạnh, tránh các nguy cơ như: xì ke ma túy, dâm ô đồi trụy, nghiện rượu…”

– “Quyền tự do liên kết với các gia đình khác để lập hội đoàn và như thế, được đại diện bên cạnh công quyền”[4].

Trên bình diện giáo xứ cũng như giáo phận, trong thư mục vụ năm 2002, Hội Đồng Giám mục VN đề nghị:

– Các Giáo phận nên có Văn phòng Mục vụ về Hôn nhân và Gia đình.

– Các Giáo xứ nên tổ chức các lớp học hỏi về hôn nhân và gia đình. Để các lớp học hỏi về hôn nhân và gia đình có được kết quả tốt đẹp, cần soạn thảo một chương trình giáo lý hôn nhân, đào tạo một đội ngũ giáo lý viên vững vàng, kêu gọi sự cộng tác của giáo dân có khả năng chuyên môn và có kinh nghiệm trong các lãnh vực: tâm lý, xã hội, pháp luật, quản trị, y khoa.

– Ban Mục vụ giáo xứ có một bộ phận chuyên trách về gia đình với sự cộng tác của các Hội đoàn quan tâm đến tình trạng các gia đình trong khu xóm, đặc biệt các gia đình nghèo khổ, bất thuận và các gia đình di dân, để kịp thời giúp đỡ.

– Những ngày lễ gia đình, ngày kỷ niệm thành hôn, những buổi giao lưu giữa các gia đình sẽ rất ích lợi nếu được chuẩn bị chu đáo với tinh thần cầu nguyện và học hỏi.

3. Gia đình góp phần xây dựng và phát triển xã hội

– Tham gia vào các việc chung, các công tác xã hội. “Đối với người tín hữu, xao lãng bổn phận trần thế tức là xao lãng bổn phận đối với tha nhân, và hơn nữa đối với chính Thiên Chúa, khiến phần rỗi đời đời của mình bị đe doạ[5]“.

– Giáo dục con cái nên người. Gia đình là chiếc nôi, là trường học đầu tiên, nơi con cái lớn lên cả về thể xác lẫn tinh thần, nơi con cái không chỉ được dạy dỗ bằng lời nói mà còn bằng gương sáng. Bởi vậy, gia đình còn được gọi là trường đào tạo nhân đức. Cần dạy con cái về nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, đặc biệt là các đức tính thành thật, công bằng, tôn trọng sự sống, tôn trọng phẩm giá con người, yêu thương người nghèo, người già cả, neo đơn, ốm đau, tật nguyền…[6]

– Góp phần xây dựng một nền văn minh tình thương. Đó là một xã hội công bằng và yêu thương. “Hội Thánh mong muốn người Công giáo đem tinh thần Kitô giáo thấm nhuần tư tưởng, phong tục, luật lệ và cơ cấu của cộng đoàn nơi họ đang sống…. qua đức tin và đức ái của mình, bằng đời sống lương thiện như ánh sáng trần gian, tìm cách cộng tác với mọi người, đối thoại với họ, để phổ biến những gì là chân thật, công bằng[7]“.

“Trong các việc tông đồ của gia đình, cần phải kể các việc như sau: nhận nuôi trẻ bị bỏ rơi, cho khách trọ nhờ, cộng tác với học đường, giúp thanh thiếu niên, đỡ đầu các đôi hôn nhân, giúp dạy giáo lý, nâng đỡ những gia đình gặp khó khăn về vật chất và tinh thần, lo cho người già những điều cần thiết và tiện nghi chính đáng[8]“.

4 GHI NHỚ :

1. H. Gia đình nắm giữ vai trò nào đối với xã hội?

T. Gia đình chính là tế bào đầu tiên và sống động của xã hội.

2. H. Xã hội có trách nhiệm thế nào đối với gia đình?

T. Xã hội cần phải quan tâm đến việc bảo vệ, củng cố và thăng tiến các giá trị đời sống gia đình.

3. H. Gia đình góp phần xây dựng xã hội bằng cách nào?

T. Gia đình góp phần xây dựng xã hội bằng cách tuân giữ luật pháp quốc gia, cộng tác trong những công việc chung để phát triển đất nước, giáo dục con cái trở nên người hữu ích và góp phần xây dựng nền văn minh tình thương.

4 GỢI Ý SUY NGHĨ :

1. Trong Tông huấn về Gia đình, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nói: “Tương lai của nhân loại sẽ đến qua gia đình”. Anh chị nghĩ sao về điều này? Gia đình của anh chị có trách nhiệm gì đối với tương lai của đất nước và của gia đình nhân loại?

2. Thư mục vụ năm 2002 của HĐGM VN, trong phần kết luận đã viết như sau: “Một gia đình Kitô hữu thực sự tốt đẹp không thể chỉ đóng kín trong những sinh hoạt riêng tư, nhưng cần mở rộng mối quan hệ với những gia đình chung quanh, để kính trọng yêu thương, trao đổi học hỏi và quan tâm giúp đỡ, góp phần phát triển nền văn minh tình thương”. Gia đình của anh chị sẽ góp phần xây dựng nền văn minh tình thương như thế nào?

4 CẦU NGUYỆN :

Lạy Thánh Gia Nadarét là gương mẫu của đời sống thánh thiện, công bình và yêu thương, xin cho gia đình chúng con trở nên nơi đào tạo nhân đức, trong hiền hoà, phục vụ và cầu nguyện. Xin cho chúng con xây dựng gia đình thành niềm an ủi cho cuộc đời đầy thử thách. Xin cho chúng con biết làm cho mọi người trong gia đình đều được thăng tiến để góp phần vào việc phát triển xã hội, và cộng tác trong việc xây dựng Hội Thánh. Amen


[1] GĐ 86

[2] GH 31

[3] GLHT 2207

[4] GLHT 2211; x. GĐ 46

[5] MV 43

[6] x. GHAC 34

[7] x. TĐ 14

[8] TĐ 11

 

Lời kết

Đón chờ Tiệc Cưới Chiên Con

Khoá học của chúng ta đến lúc kết thúc. Đang khi anh chị bận rộn chuẩn bị cho lễ cưới của mình, xin mời anh chị cũng hướng lòng tới một lễ cưới khác: Tiệc cưới đời đời trong Nước Thiên Chúa.

1. Thuỷ và Chung

Anh chị cam kết yêu nhau chung thuỷ, nghĩa là yêu nhau từ phút đầu (thuỷ) đến phút cuối (chung), mãi đến lúc kết thúc (chung) vẫn còn yêu như lúc khởi đầu (thuỷ). Lễ cưới của anh chị là một khởi đầu, và kết thúc phải chăng là lúc anh chị nhắm mắt xuôi tay? Đã có một khởi thuỷ của mọi khởi thuỷ, đó là Thiên Chúa và Tình yêu của Ngài, và có một chung cuộc của mọi chung cuộc, đó cũng chính là Thiên Chúa và Tình yêu của Ngài. Vì thế, giữa những lời cầu chúc của mọi người, có một lời nguyện chúc của Hội Thánh, nguyện chúc anh chị được hạnh phúc cho đến cõi đời đời, khi anh chị được tham dự tiệc cưới của Chiên Con, mừng hôn lễ đời đời giữa Đức Kitô và Hội Thánh (Kh 19,8). Đó mới thực sự là chung cuộc, để anh chị được hạnh phúc bên nhau cùng với con cháu mình và với mọi người cho đến đời đời trong tình yêu vĩnh hằng của Thiên Chúa.

Đó cũng là một ý nghĩa thâm thuý tuyệt vời khi tình yêu của anh chị được Đức Kitô nâng lên hàng bí tích: Tình yêu ấy là dấu chỉ giúp anh chị nhận ra và cũng là phương tiện giúp anh chị đạt đến tình yêu đời đời của Đức Kitô. Như thế hành trình hạnh phúc của anh chị là hành trình của một cuộc tình nhỏ trong một cuộc tình lớn.

2. Cuộc tình nhỏ trong cuộc tình lớn

“Các con thân mến, chúng ta phải yêu thương nhau, vì tình yêu bởi Thiên Chúa mà ra. Vì lẽ hễ ai thương yêu, thì đã sinh ra bởi Thiên Chúa, và nhận biết Thiên Chúa. Còn ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình Yêu. Điều này biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta là Thiên Chúa chúng ta đã sai Con Một Người đến trong thếâ gian, để nhờ Ngài mà chúng ta được sống. Tình yêu ấy là thế này: Không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta trước, và đã sai Con Một Người đến hy sinh, đền thay vì tội lỗi chúng ta” (1Ga 4,7-10).

“Thầy ban cho các con điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau. Như Thầy đã yêu thương các con, thì các con cũng hãy yêu thương nhau. Căn cứ vào điều này mà mọi người nhận biết các con là môn đệ của Thầy, là nếu các con yêu thương nhau” (Ga 13,34-35)

Đó chính là hướng đi và chương trình Thiên Chúa dành cho anh chị. Khi thực hiện, anh chị sẽ nghiệm ra đâu là bến bờ cho sự thuỷ chung của mình. Bến bờ ấy là tình yêu của Đấng cùng một lúc vừa là Thuỷ vừa là Chung: “Ta là Alpha và là Ômêga, là Khởi nguyên và là Cùng tận!” (Kh 21,6).

3. Sum họp trong đại gia đình Thiên Chúa

Đưa nhau đến trước bàn thờ gia tiên, anh chị nguyện sống thế nào để chết rồi khỏi thẹn với Ông Bà. Gặp lại Ông Bà nhưng không phải trong một âm phủ tối tăm mà trong ánh sáng hạnh phúc. Cũng không phải chỉ gặp lại năm thế hệ tổ tiên có bài vị trên bàn thờ mà là mọi thế hệ tổ tiên, lên đến con người đầu tiên của lịch sử. Chắc hẳn cũng không thiếu những vị đã khuất mà không cập được bến bờ ánh sáng nhưng bị chìm đắm trong khổ đau đời đời. Tuy nhiên, ta có thể vững tin rằng tất cả những ai đã theo lương tâm mà sống ngay lành và sau khi vấp ngã lại biết chỗi dậy sống theo lương tâm thì đều có một chỗ đứng trong Nhà của Thiên Chúa. Ở đó, chúng ta nghiệm ra không những bốn bể mà mọi thế hệ trong lịch sử đều là anh em, con một Cha chung trên trời.

“Sau đó, tôi đã nhìn thấy đoàn người đông đảo không thể đếm được, họ thuộc đủ mọi nước, mọi chi họ, mọi dân tộc và mọi thứ tiếng. Họ đứng trước ngai vàng và trước mặt Con Chiên, mình mặc áo trắng tinh, tay cầm nhành lá thiên tuế. Họ lớn tiếng tung hô rằng: “Kính lạy Thiên Chúa chúng tôi, Đấng ngự trên ngai vàng và Con Chiên” (Kh 7,9-10)

Trong gia đình của Thiên Chúa, mọi thành viên đều có quan hệ thân thương với nhau, nhờ gắn bó với Ba Ngôi Thiên Chúa. Chính Ngài là nguồn mạch và mẫu mực của mọi tình yêu. Hướng về Thiên Chúa và gắn bó với Ngài, ta được mời gọi yêu thương nhau và yêu thương mọi người như Ba Ngôi yêu thương nhau và yêu thương chúng ta.

4. Vinh quang vẫy gọi

Một hình ảnh khác: Hội Thánh thời cuối cùng được trình bày như một phụ nữ đang quằn quại sắp sinh con “Lại một điềm lạ khác xuất hiện trên trời: một người nữ mặc áo mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao: Bà đang mang thai kêu la chuyển bụng, và đau đớn sinh con”(Kh 12,1-2). Chính lúc khốn khổ như thế, bà lại bị kẻ thù lăm le tấn công, thế nhưng Thiên Chúa đã cứu thoát bà (x. Kh 12,3-6).

Cuộc thử thách ấy không những xảy ra cho Hội Thánh hoàn vũ mà còn xảy ra cho mọi gia đình và mỗi gia đình, là những Hội Thánh nhỏ của con cái Thiên Chúa, mỗi nhà một cảnh. Cả gia đình của anh chị rồi cũng thế, sẽ không tránh khỏi những khó khăn và thử thách. Tuy nhiên, dù nặng nề và đen tối tới đâu, trong tình thương và quyền năng của Thiên Chúa, những thử thách đều là những phương tiện Thiên Chúa dùng để đào luyện chúng ta trên con đường tình yêu. Biết như thế, ta sẽ luôn vững tin vào lời Chúa: “Khi những điều đó bắt đầu xảy đến, các con hãy đứng dậy và ngẩng đầu lên, vì giờ cứu rỗi các con đã gần đến” (Lc 21,28); và “Người đàn bà khi sinh con thi lo buồn, vì giờ đã đến, nhưng khi đã sinh con rồi, thì bà mừng rỡ, không còn nhớ đến cơn đau, bởi vì đã có một người sinh ra đời” (Ga 16,21)

Chung một hội, chung một thuyền, chúng ta sẽ cùng cập bến. Tuy nhiên, tình yêu tự hiến của mỗi người một khác, nên vinh quang mỗi người cũng một khác. Chị thánh Têrêxa nhắc ta sống yêu thương tràn đầy để đạt được vinh quang lớn nhất mà Thiên Chúa muốn dành cho ta.

5. Vĩnh hằng và hôm nay

“Tình yêu bắt đầu từ đôi mắt, ngày mai bắt đầu từ hôm nay”. Không chỉ ngày mai mà cả cuộc sống đời đời cũng bắt nguồn từ hôm nay. Chìa khoá của vinh quang đời đời chính là giây phút hiện tại. “Ai trung tín trong việc nhỏ thì cũng trung tín trong việc lớn” (Lc 16,10). Sự chung thuỷ một đời được hứa hẹn nơi sự chung thuỷ của chính ngày hôm nay. Một ngày yêu thương đến cùng báo hiệu một đời yêu thương đến cùng. Anh chị hãy cầu xin ơn Chúa Thánh Thần để mỗi sáng mai thức dậy, anh chị đều mở mắt ra với tâm nguyện sống một ngày đầy mến Chúa yêu người, tha thiết yêu thương chăm lo cho nhau và cho con cái. Và hãy cố gắng giữ tròn ước nguyện ấy cho đến phút chót trước khi ngủ. Nếu có lúc nào trong ngày, anh chị chợt nhận ra mình đã lỡ quên yêu thương, thì hãy bắt đầu lại một khởi đầu mới và cố gắng trung thành đến cuối ngày. Từ trong gia đình đến ngoài xã hội, chúng ta ra sức xây dựng một cuộc sống công bằng và yêu thương để dọn đường cho trời mới đất mới xuất hiện:

Xây công bằng, dựng yêu thương,
Gieo thiên thu giữa đời thường hôm nay.

  (kỳ tới sẽ đăng phần Phụ Lục)

 

Tác giả:  UB Giáo Lý Đức Tin, HĐGMVN

 
 Nguồn: http://www.giaoducconggiao.net/index.php?m=home&v=detail&ia=44